VietNam34.comViệt Nam 34
Vùng miền và so sánh tỉnh

Sáu vùng kinh tế – xã hội sau sáp nhập: mỗi vùng còn những tỉnh nào

Sau 1/7/2025 Việt Nam còn 34 tỉnh thành nhưng vẫn chia sáu vùng. Bảng xếp 27 tỉnh nằm gọn một vùng cũ, 7 tỉnh vắt qua hai vùng và cách hiểu cho đúng.

Aerial wide view of a long provincial highway crossing from green rice fields toward distant blue mountains at early morning, a few trucks and motorbikes, soft golden haze

Từ 1/7/2025 Việt Nam còn 34 tỉnh, thành phố, nhưng khung sáu vùng kinh tế – xã hội vẫn là cách chia quen thuộc: Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu xếp theo các tỉnh cũ hợp thành, 27 tỉnh mới nằm gọn trong một vùng cũ, còn 7 tỉnh mới được ghép từ những tỉnh cũ thuộc hai vùng khác nhau: Phú Thọ, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Tây Ninh.

Bảy tỉnh vắt hai vùng ấy là lý do nhiều người tra "tỉnh X thuộc vùng nào" và nhận được hai câu trả lời khác nhau. Bài này đặt sáu vùng cạnh danh sách tỉnh mới, chỉ ra từng trường hợp vắt vùng, giải thích vì sao vùng là khái niệm quy hoạch chứ không phải một cấp hành chính, và cách đọc các văn bản xếp vùng sau này. Cách xếp chính thức cuối cùng do văn bản quy hoạch quốc gia điều chỉnh quy định, nên ở đâu chưa có văn bản rõ, bài nói rõ là chưa chốt.

Vùng kinh tế – xã hội là gì, khác gì miền Bắc – Trung – Nam

Vùng kinh tế – xã hội là đơn vị dùng trong quy hoạch và thống kê, không có chính quyền riêng, không có trụ sở, không ban hành giấy tờ cho người dân. Một người sống ở Đà Lạt làm căn cước, đăng ký xe hay hồ sơ đất đai chỉ làm việc với cấp xã và cấp tỉnh Lâm Đồng, chưa bao giờ với "vùng Tây Nguyên". Vùng chỉ hiện ra khi Nhà nước lập quy hoạch, tính chỉ tiêu tăng trưởng, chia nguồn lực đầu tư hạ tầng liên tỉnh, hoặc khi cơ quan thống kê công bố số liệu gộp theo vùng.

Cách chia sáu vùng hiện hành được nêu trong Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030 do Quốc hội thông qua đầu năm 2023. Trước sáp nhập, sáu vùng gồm đủ 63 tỉnh thành: Trung du và miền núi phía Bắc 14 tỉnh, Đồng bằng sông Hồng 11, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 14, Tây Nguyên 5, Đông Nam Bộ 6, Đồng bằng sông Cửu Long 13.

Ba miền Bắc – Trung – Nam là cách gọi văn hoá, khí hậu, giọng nói, không có ranh pháp lý. Thanh Hoá được coi là miền Bắc trong câu chuyện thời tiết nhưng lại thuộc vùng Bắc Trung Bộ trong quy hoạch; Lâm Đồng thường được gọi là "miền Trung" khi nói chuyện du lịch, nhưng phần cao nguyên của tỉnh xưa nay vẫn được tính vào Tây Nguyên. Khi đọc một bài so sánh, bạn nên xem người viết đang dùng "miền" hay "vùng" để khỏi đối chiếu nhầm.

27 tỉnh mới nằm gọn trong một vùng cũ

Bảng dưới xếp các tỉnh mới mà mọi tỉnh cũ hợp thành đều thuộc cùng một vùng trước sáp nhập. Với nhóm này, câu hỏi "thuộc vùng nào" gần như không có tranh cãi:

Vùng (theo cách chia trước 7/2025)Tỉnh, thành mới nằm gọn trong vùngSố tỉnh
Trung du và miền núi phía BắcLai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang (gồm Hà Giang), Lào Cai (gồm Yên Bái), Thái Nguyên (gồm Bắc Kạn)8
Đồng bằng sông HồngHà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng (gồm Hải Dương), Hưng Yên (gồm Thái Bình), Ninh Bình (gồm Hà Nam, Nam Định)5
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền TrungThanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị (gồm Quảng Bình), Huế, Đà Nẵng (gồm Quảng Nam), Khánh Hoà (gồm Ninh Thuận)7
Tây NguyênKhông còn tỉnh nào chỉ gồm tỉnh cũ Tây Nguyên0
Đông Nam BộTP Hồ Chí Minh (gồm Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu), Đồng Nai (gồm Bình Phước)2
Đồng bằng sông Cửu LongCần Thơ (gồm Sóc Trăng, Hậu Giang), Vĩnh Long (gồm Bến Tre, Trà Vinh), Đồng Tháp (gồm Tiền Giang), An Giang (gồm Kiên Giang), Cà Mau (gồm Bạc Liêu)5

Cộng lại 8 + 5 + 7 + 0 + 2 + 5 = 27 tỉnh. Dòng Tây Nguyên trống là điểm đáng chú ý nhất: cả năm tỉnh cũ của vùng này đều được ghép với một tỉnh ven biển hoặc một tỉnh của vùng khác, nên không còn tỉnh mới nào "thuần cao nguyên" theo nghĩa hành chính.

Bảy tỉnh vắt qua hai vùng cũ

Phú Thọ. Ghép Phú Thọ, Hoà Bình (vốn thuộc Trung du và miền núi phía Bắc) với Vĩnh Phúc (vốn thuộc Đồng bằng sông Hồng). Trung tâm hành chính đặt ở Việt Trì, phần lớn diện tích là đồi núi trung du.

Bắc Ninh. Ghép Bắc Ninh (Đồng bằng sông Hồng) với Bắc Giang (Trung du và miền núi phía Bắc). Trung tâm hành chính đặt tại thành phố Bắc Giang cũ, trong khi phần Bắc Ninh cũ là vùng công nghiệp dày đặc sát Hà Nội.

Quảng Ngãi. Ghép Quảng Ngãi ven biển (duyên hải miền Trung) với Kon Tum (Tây Nguyên). Tỉnh mới trải từ biển Lý Sơn tới ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia.

Gia Lai. Ghép Gia Lai (Tây Nguyên) với Bình Định (duyên hải miền Trung); trung tâm hành chính đặt ở Quy Nhơn, tức là ở phía biển.

Đắk Lắk. Ghép Đắk Lắk (Tây Nguyên) với Phú Yên (duyên hải miền Trung); trung tâm hành chính ở Buôn Ma Thuột, tức là ở phía cao nguyên.

Lâm Đồng. Ghép Lâm Đồng, Đắk Nông (Tây Nguyên) với Bình Thuận (duyên hải miền Trung); trung tâm hành chính ở Đà Lạt.

Tây Ninh. Ghép Tây Ninh (Đông Nam Bộ) với Long An (Đồng bằng sông Cửu Long); trung tâm hành chính đặt ở Tân An, vốn là tỉnh lỵ Long An.

Vì sao cùng một tỉnh lại có hai câu trả lời về vùng

Có ít nhất ba tiêu chí người ta dùng để xếp vùng cho bảy tỉnh trên, và chúng không cho cùng kết quả. Tiêu chí thứ nhất là diện tích: phần tỉnh cũ nào rộng hơn thì kéo cả tỉnh về vùng của nó. Theo tiêu chí này Gia Lai mới nghiêng về Tây Nguyên vì Gia Lai cũ rộng gấp hai lần rưỡi Bình Định. Tiêu chí thứ hai là nơi đặt trung tâm hành chính: Gia Lai mới đặt trung tâm ở Quy Nhơn nên có người xếp nó về duyên hải. Tiêu chí thứ ba là định hướng phát triển ghi trong quy hoạch, thứ chỉ văn bản quy hoạch điều chỉnh mới trả lời được.

Với Tây Ninh, tiêu chí diện tích và dân số cho kết quả gần như cân bằng, còn trung tâm hành chính lại nằm ở phần Long An cũ. Với Bắc Ninh, phần Bắc Giang cũ rộng hơn nhiều nhưng phần Bắc Ninh cũ đông dân và gắn chặt với Hà Nội. Đó là lý do cùng một câu hỏi, các trang tin khác nhau có thể trả lời khác nhau, và không trang nào sai hoàn toàn.

Cách an toàn khi bạn cần dùng số liệu theo vùng cho học tập hay báo cáo: ghi rõ đang theo cách xếp nào, và kiểm văn bản quy hoạch quốc gia điều chỉnh hoặc niên giám thống kê mới nhất để biết cơ quan thống kê gộp tỉnh mới vào vùng nào. Số liệu vùng của các năm trước 2025 được tính theo 63 tỉnh cũ, nên khi so sánh trước và sau cần tính lại theo cùng một ranh.

Mỗi vùng thay đổi thế nào về số lượng tỉnh

Trung du và miền núi phía Bắc giảm mạnh về số đơn vị: từ 14 tỉnh xuống còn 8 tỉnh gọn, thêm Phú Thọ và Bắc Ninh mới tuỳ cách xếp. Ba cặp miền núi ghép với nhau là Hà Giang với Tuyên Quang, Yên Bái với Lào Cai, Bắc Kạn với Thái Nguyên; năm tỉnh vùng cao Tây Bắc và biên giới phía Bắc giữ nguyên. Đồng bằng sông Hồng từ 11 còn 5 tỉnh gọn, cộng thêm Bắc Ninh và Phú Thọ mới nếu xếp theo phần Bắc Ninh cũ và Vĩnh Phúc cũ.

Dải Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung giữ nguyên bốn đơn vị phía bắc là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, rồi từ Quảng Bình trở vào thì ghép theo cặp dọc bờ biển hoặc ghép với tỉnh cao nguyên phía sau. Tây Nguyên là vùng duy nhất không còn tỉnh nào chỉ gồm tỉnh cũ của mình. Đông Nam Bộ từ 6 xuống còn 2 tỉnh gọn là TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai, cộng Tây Ninh mới nếu xếp về phía này. Đồng bằng sông Cửu Long từ 13 còn 5 tỉnh gọn, cộng Tây Ninh nếu xếp về phía này.

Nhìn tổng thể, sáp nhập 2025 làm cho ranh giới giữa các vùng mờ đi ở đúng những nơi trước đây vốn là vùng chuyển tiếp: dải trung du giữa núi và đồng bằng Bắc Bộ, dải sườn đông Trường Sơn giữa cao nguyên và biển miền Trung, dải đất giữa Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Vùng động lực, hành lang kinh tế: một lớp bản đồ khác

Ngoài sáu vùng, các văn bản quy hoạch còn dùng những khái niệm chồng lên trên: vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế. Trước đây báo chí quen nói "vùng kinh tế trọng điểm" phía Bắc, miền Trung, phía Nam và đồng bằng sông Cửu Long; Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030 chuyển trọng tâm sang các vùng động lực quanh Hà Nội, quanh TP Hồ Chí Minh và một số đô thị ven biển miền Trung, cùng hành lang kinh tế Bắc – Nam dọc quốc lộ 1, cao tốc và đường sắt.

Những khái niệm này không thay thế sáu vùng mà cắt ngang qua chúng. Một tỉnh có thể thuộc Trung du và miền núi phía Bắc theo cách chia vùng, nhưng lại nằm trong vùng động lực quanh Hà Nội theo cách nhìn về liên kết kinh tế. Sau sáp nhập, ranh tỉnh mới khiến nhiều hành lang nằm gọn hơn trong một tỉnh: tuyến từ Quy Nhơn lên Pleiku nay đi trọn trong Gia Lai, tuyến từ Phan Thiết lên Đà Lạt nay đi trọn trong Lâm Đồng.

Khi đọc tin về một dự án hạ tầng hay một khu công nghiệp, bạn sẽ gặp các chữ này lẫn với nhau. Cách hiểu gọn: vùng để thống kê và phân công phát triển, vùng động lực để chỉ nơi được ưu tiên dẫn dắt tăng trưởng, hành lang để chỉ trục giao thông nối các nơi đó.

Dùng khung vùng thế nào cho đúng khi tra cứu, học tập

Vài nguyên tắc giúp bạn không nhầm khi gặp chữ "vùng" trong sách giáo khoa, báo chí hay hồ sơ dự án:

  • Hỏi "vùng theo văn bản nào": sách giáo khoa Địa lý viết trước 2025, niên giám thống kê cũ và nhiều báo cáo doanh nghiệp vẫn dùng 63 tỉnh cũ.
  • Với 27 tỉnh nằm gọn một vùng, có thể yên tâm xếp theo vùng cũ; với 7 tỉnh vắt hai vùng, ghi chú cách xếp đang dùng.
  • Khi so sánh số liệu một vùng trước và sau 2025, cộng lại số của các tỉnh cũ theo đúng ranh tỉnh mới, không lấy số vùng cũ đặt cạnh số vùng mới.
  • Không suy từ vùng ra thủ tục: vùng không có cơ quan, mọi giấy tờ vẫn làm ở cấp xã hoặc cấp tỉnh.
  • Học sinh ôn thi nên học theo đúng tài liệu mà kỳ thi năm đó dùng; nếu tài liệu chưa cập nhật, giáo viên thường hướng dẫn cách ghi cả tên cũ và tên mới.
  • Người làm dự án, viết báo cáo liên tỉnh nên xem phần "tổ chức không gian vùng" trong quy hoạch tỉnh mới của từng địa phương, vì đó là nơi tỉnh tự mô tả vai trò của mình trong vùng.

Vùng là lăng kính để nhìn các tỉnh theo nhóm, không phải một tầng chính quyền. Hiểu vậy thì chuyện bảy tỉnh vắt hai vùng không còn gây rối, chỉ còn là một ghi chú khi dùng số liệu.

Câu hỏi thường gặp

Sau sáp nhập Việt Nam còn mấy vùng kinh tế – xã hội?

Khung sáu vùng vẫn được dùng: Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Việc gộp hay đổi tên vùng, nếu có, do văn bản quy hoạch quốc gia điều chỉnh quyết định; bạn nên kiểm văn bản mới nhất.

Tây Nguyên có còn không khi không tỉnh nào chỉ gồm tỉnh cũ Tây Nguyên?

Tây Nguyên về địa lý vẫn nguyên đó: cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lâm Viên, Di Linh không đi đâu cả. Điều thay đổi là các tỉnh hành chính chứa vùng cao nguyên nay đều có thêm phần duyên hải hoặc phần tỉnh khác, nên việc xếp tỉnh vào vùng cần ghi chú.

Tây Ninh mới thuộc Đông Nam Bộ hay đồng bằng sông Cửu Long?

Tây Ninh mới ghép Tây Ninh cũ thuộc Đông Nam Bộ với Long An cũ thuộc đồng bằng sông Cửu Long, trung tâm hành chính ở Tân An. Nhiều nguồn xếp về Đông Nam Bộ, nhưng cách xếp chính thức theo văn bản quy hoạch điều chỉnh; khi dùng số liệu hãy ghi rõ đang xếp theo cách nào.

Vùng kinh tế có ảnh hưởng gì tới giấy tờ của người dân không?

Không. Vùng chỉ dùng cho quy hoạch, thống kê và điều phối đầu tư liên tỉnh. Địa chỉ trên giấy tờ chỉ ghi xã hoặc phường và tỉnh, thành phố; không có dòng nào ghi vùng, và không có cơ quan cấp vùng nào giải quyết thủ tục cho cá nhân.

Vì sao sách giáo khoa vẫn ghi 63 tỉnh chia vào sáu vùng?

Sách in trước 7/2025 phản ánh địa giới lúc đó. Việc cập nhật sách và tài liệu ôn thi đi sau thay đổi hành chính một khoảng thời gian; trong lúc chờ, học sinh nên học theo hướng dẫn của giáo viên và tài liệu mà kỳ thi năm đó chính thức sử dụng.

Vùng nào giảm nhiều tỉnh nhất sau sáp nhập?

Xét theo số đơn vị, Đồng bằng sông Cửu Long từ 13 tỉnh còn 5 tỉnh gọn, Trung du và miền núi phía Bắc từ 14 còn 8 tỉnh gọn, Đông Nam Bộ từ 6 còn 2 tỉnh gọn. Số chính xác phụ thuộc cách xếp bảy tỉnh vắt hai vùng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.