VietNam34.comViệt Nam 34
Vùng miền và so sánh tỉnh

Tỉnh rộng nhất và nhỏ nhất Việt Nam sau sáp nhập: so diện tích 34 tỉnh thành

Lâm Đồng mới rộng nhất, Hưng Yên mới nhỏ nhất theo phép cộng diện tích tỉnh cũ. Bảng ước tính nhóm đầu, nhóm cuối và vì sao số chính thức có thể chênh.

High aerial view over rolling highland coffee farms and pine forests stretching to the horizon under scattered clouds, red dirt roads cutting through green hills, late afternoon light

Sau sáp nhập 1/7/2025, tỉnh rộng nhất Việt Nam là Lâm Đồng mới, gồm Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận cũ, với diện tích cộng lại khoảng hơn 24 nghìn km²; tỉnh nhỏ nhất là Hưng Yên mới, gồm Hưng Yên và Thái Bình cũ, khoảng 2,5 nghìn km². Đứng sau Lâm Đồng là Gia Lai mới (khoảng 21,6 nghìn km²) và Đắk Lắk mới (khoảng 18,1 nghìn km²); Nghệ An, tỉnh rộng nhất trước sáp nhập, lùi xuống vị trí thứ tư.

Các con số trong bài được tính bằng cách cộng diện tích các tỉnh cũ theo số liệu thống kê trước sáp nhập, làm tròn tới hàng trăm km². Chúng đủ để so sánh thứ bậc và cảm nhận quy mô, nhưng không thay cho số chính thức của từng tỉnh mới, vốn có thể chênh đôi chút do đo đạc lại ranh giới. Bài này đưa ra bảng nhóm đầu và nhóm cuối, giải thích vì sao bản đồ thứ hạng xáo trộn mạnh như vậy, và một vài cách dùng số liệu diện tích cho đúng.

Nhóm tỉnh rộng nhất sau sáp nhập (ước tính)

Bảng dưới liệt kê các tỉnh mới có diện tích trên khoảng 12 nghìn km², theo phép cộng số tỉnh cũ:

Thứ tự (ước tính)Tỉnh mớiGhép từDiện tích khoảng (km²)
1Lâm ĐồngLâm Đồng, Đắk Nông, Bình Thuận24.200
2Gia LaiGia Lai, Bình Định21.600
3Đắk LắkĐắk Lắk, Phú Yên18.100
4Nghệ AnGiữ nguyên16.500
5Quảng NgãiQuảng Ngãi, Kon Tum14.800
6Sơn LaGiữ nguyên14.100
7Tuyên QuangTuyên Quang, Hà Giang13.800
8Lào CaiLào Cai, Yên Bái13.300
9–10Đồng Nai, Quảng TrịĐồng Nai với Bình Phước; Quảng Trị với Quảng Bình12.700 mỗi tỉnh

Đồng Nai và Quảng Trị mới sát nhau tới mức chênh lệch nằm trong sai số làm tròn, nên đặt chung một hàng. Sau nhóm này là Đà Nẵng mới (khoảng 11,9 nghìn km², phần lớn là diện tích Quảng Nam cũ) và Thanh Hoá (khoảng 11,1 nghìn km²).

Nhóm tỉnh nhỏ nhất sau sáp nhập (ước tính)

Ở đầu kia của thang đo, sáu địa phương có diện tích dưới khoảng 5 nghìn km² đều nằm ở châu thổ sông Hồng hoặc là thành phố trực thuộc trung ương:

Thứ tự từ nhỏ lênTỉnh, thành mớiGhép từDiện tích khoảng (km²)
1Hưng YênHưng Yên, Thái Bình2.500
2Hải PhòngHải Phòng, Hải Dương3.200
3Hà NộiGiữ nguyên3.400
4Ninh BìnhNinh Bình, Hà Nam, Nam Định3.900
5Bắc NinhBắc Ninh, Bắc Giang4.700
6HuếGiữ nguyên4.900

Tỉnh rộng nhất lớn gần gấp mười tỉnh nhỏ nhất. Trước sáp nhập khoảng cách còn xa hơn nhiều, vì Bắc Ninh cũ chỉ khoảng 820 km² trong khi Nghệ An khoảng 16,5 nghìn km², chênh khoảng hai mươi lần. Sáp nhập đã thu hẹp đáng kể độ chênh quy mô giữa các tỉnh.

Cả sáu địa phương nhỏ nhất đều nằm ở nơi đất bằng, dân đông, đô thị hoá cao, và bốn trong số đó là kết quả của việc ghép các tỉnh vốn đã nhỏ. Điều này phản ánh một thực tế địa lý: châu thổ sông Hồng là vùng đất được khai phá lâu đời, chia nhỏ thành nhiều tỉnh từ sớm, nên dù gộp lại, mỗi tỉnh mới vẫn chỉ bằng một phần nhỏ của các tỉnh cao nguyên. Huế lọt vào nhóm này vì là thành phố giữ nguyên, kẹp giữa biển và dãy Trường Sơn.

Nhóm tầm trung: phần đông các tỉnh mới

Giữa hai đầu là nhóm đông nhất, các tỉnh có diện tích khoảng 6 đến 10 nghìn km². Ở phía Bắc có Quảng Ninh khoảng 6,2 nghìn km², Cao Bằng khoảng 6,7, Lạng Sơn khoảng 8,3, Thái Nguyên mới khoảng 8,4, Lai Châu khoảng 9,1, Phú Thọ mới khoảng 9,4 và Điện Biên khoảng 9,5 nghìn km². Ở miền Trung có Hà Tĩnh khoảng 6 nghìn km² và Khánh Hoà mới khoảng 8,6 nghìn km². Phía Nam có TP Hồ Chí Minh mới, Cần Thơ mới và toàn bộ các tỉnh miền Tây.

Nhóm này cho thấy một điểm đáng chú ý: phần lớn tỉnh mới có quy mô diện tích gần nhau hơn trước. Trước sáp nhập, cả nước có những tỉnh dưới một nghìn km² như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, và những tỉnh trên 15 nghìn km² như Nghệ An, Gia Lai; nay phần lớn tỉnh rơi vào dải giữa, chỉ một số ít ở hai đầu.

Khi so sánh hai tỉnh trong nhóm này, chênh lệch vài trăm km² thường nằm trong sai số của phép cộng tỉnh cũ, nên đừng vội kết luận tỉnh nào lớn hơn nếu chưa có số chính thức. Ví dụ, Lạng Sơn và Thái Nguyên mới, hay Tây Ninh và Khánh Hoà mới, sát nhau tới mức thứ tự có thể đảo khi dùng số liệu của năm khác.

Vì sao thứ hạng diện tích xáo trộn mạnh như vậy

Nguyên nhân thứ nhất nằm ở cách ghép: những tỉnh lớn nhất mới đều là sự kết hợp giữa một tỉnh cao nguyên vốn đã rộng với một tỉnh duyên hải hoặc cao nguyên khác. Gia Lai cũ đã là tỉnh rộng thứ hai cả nước, khoảng 15,5 nghìn km²; cộng thêm Bình Định khoảng 6 nghìn km² là vượt Nghệ An. Lâm Đồng cũ chưa tới 10 nghìn km², nhưng cộng Đắk Nông và Bình Thuận, mỗi tỉnh khoảng 6,5 đến 8 nghìn km², thì vượt lên đầu.

Nguyên nhân thứ hai là 11 địa phương giữ nguyên không tăng diện tích, trong đó có những tỉnh trước đây đứng đầu bảng như Nghệ An, Sơn La, Thanh Hoá. Chúng không nhỏ đi, chỉ là các tỉnh mới xung quanh lớn lên. Ngược lại, những tỉnh nhỏ ở đồng bằng sông Hồng được ghép với nhau nhưng vẫn nhỏ, vì từng mảnh ghép đều nhỏ: Hưng Yên cũ chưa tới một nghìn km², Thái Bình khoảng 1,6 nghìn km².

Nguyên nhân thứ ba ít ai để ý: diện tích tự nhiên của một tỉnh ven biển thường chỉ tính phần đất liền và đảo, không tính vùng biển. Vì thế các tỉnh có biển rộng như Khánh Hoà, An Giang mới không "to" lên trên bảng diện tích dù quản lý những vùng biển và quần đảo lớn. Khi nói "tỉnh rộng nhất", ta đang nói về đất.

Những so sánh hay bị hỏi

TP Hồ Chí Minh nay rộng hơn Hà Nội. TP Hồ Chí Minh mới gồm cả Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, diện tích cộng lại khoảng 6,8 nghìn km², gần gấp đôi Hà Nội khoảng 3,4 nghìn km². Trước sáp nhập thì ngược lại, Hà Nội rộng hơn TP Hồ Chí Minh cũ (khoảng 2,1 nghìn km²).

Đà Nẵng nay là thành phố trực thuộc trung ương rộng nhất. Với phần lớn diện tích Quảng Nam cũ, Đà Nẵng mới khoảng 11,9 nghìn km², rộng hơn mọi thành phố trực thuộc trung ương khác, kể cả TP Hồ Chí Minh mới.

Cần Thơ không còn là "thành phố nhỏ". Cần Thơ cũ chỉ khoảng 1,4 nghìn km²; ghép Sóc Trăng và Hậu Giang, Cần Thơ mới khoảng 6,4 nghìn km², xấp xỉ TP Hồ Chí Minh mới.

Huế giữ nguyên nhưng không phải nhỏ nhất. Huế khoảng 4,9 nghìn km², lớn hơn Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình và Bắc Ninh mới.

Đồng bằng sông Cửu Long đồng đều hơn. Các tỉnh mới ở miền Tây đều rơi vào khoảng 6 đến 10 nghìn km²: Đồng Tháp khoảng 5,9; Vĩnh Long khoảng 6,3; Cần Thơ khoảng 6,4; Cà Mau khoảng 7,9; Tây Ninh mới khoảng 8,5; An Giang khoảng 9,9 nghìn km².

Miền núi phía Bắc không còn tỉnh "tí hon". Bắc Kạn, từng là một trong những tỉnh ít dân nhất, đã vào Thái Nguyên; Thái Nguyên mới khoảng 8,4 nghìn km².

Diện tích lớn có nghĩa là gì với người dân

Diện tích lớn trước hết là khoảng cách. Ở Lâm Đồng mới, một người sống ở đặc khu Phú Quý hay ở vùng biển phía nam Bình Thuận cũ muốn tới trung tâm hành chính tỉnh ở Đà Lạt phải đi qua cả vùng duyên hải lẫn đèo lên cao nguyên. Ở Gia Lai mới, người ở vùng biên giới phía tây Gia Lai cũ đi về Quy Nhơn cũng là một chặng dài. Đây là lý do việc đưa thủ tục hành chính về cấp xã và làm trực tuyến được nhấn mạnh trong giai đoạn chuyển tiếp: phần lớn giấy tờ hằng ngày của người dân không cần lên tỉnh.

Diện tích lớn cũng có nghĩa là đa dạng. Một tỉnh rộng thường gồm nhiều kiểu địa hình, khí hậu và cây trồng: Lâm Đồng mới có rau hoa xứ lạnh, cà phê, hồ tiêu, điều, thanh long, thuỷ sản và muối. Với người làm du lịch, tỉnh rộng giúp gói nhiều trải nghiệm trong một lịch trình; với người làm nông nghiệp, đó là vùng nguyên liệu lớn hơn nằm trong một đầu mối quản lý.

Ngược lại, tỉnh nhỏ như Hưng Yên hay Hải Phòng mới có ưu thế mật độ: khoảng cách từ mọi nơi tới trung tâm ngắn, hạ tầng tập trung, chi phí kết nối thấp. Diện tích nhỏ không đồng nghĩa với yếu; nhiều địa phương nhỏ nhất lại là nơi đông dân và có quy mô sản xuất lớn trên mỗi km².

Với các cơ quan nhà nước, diện tích còn gắn với chuyện tổ chức mạng lưới: số điểm tiếp nhận hồ sơ, trạm y tế, trường học, đồn công an phải trải đủ rộng để người dân ở xa không bị thiệt. Ở tỉnh rộng, một xã miền núi có thể rộng hơn cả một số phường gộp lại ở đồng bằng, nên quy mô xã cũng khác nhau rất nhiều giữa các tỉnh.

Dùng số liệu diện tích thế nào cho đúng

Diện tích là con số dễ trích dẫn nhưng cũng dễ trích sai. Vài nguyên tắc nên nhớ:

  • Ghi rõ nguồn và năm. Số cộng từ tỉnh cũ chỉ là ước tính; khi tỉnh mới công bố số chính thức, dùng số đó.
  • Làm tròn hợp lý. Viết "khoảng 24 nghìn km²" thay vì một con số chính xác đến hàng đơn vị mà bạn không kiểm được.
  • Không so diện tích năm khác nhau: số liệu đất đai được kiểm kê định kỳ và có thể thay đổi do đo đạc lại hoặc lấn biển.
  • Diện tích tự nhiên khác diện tích đất nông nghiệp, đất đô thị hay diện tích quy hoạch; đọc kỹ chú thích.
  • Khi xếp hạng, nêu rõ các trường hợp sát nhau trong sai số, như Đồng Nai và Quảng Trị mới.
  • Với học sinh, nhớ thứ bậc và độ lớn tương đối có giá trị hơn nhớ con số chính xác.

Nếu bạn cần số chính xác cho hồ sơ, luận văn hay báo cáo, hãy lấy từ niên giám thống kê hoặc cổng thông tin chính thức của tỉnh mới, và ghi kèm năm công bố.

Câu hỏi thường gặp

Tỉnh nào rộng nhất Việt Nam sau sáp nhập?

Theo phép cộng diện tích các tỉnh cũ, Lâm Đồng mới, gồm Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận, rộng nhất với khoảng hơn 24 nghìn km². Gia Lai mới đứng thứ hai, Đắk Lắk mới thứ ba. Số chính thức của tỉnh mới có thể chênh nhẹ so với phép cộng.

Tỉnh nào nhỏ nhất Việt Nam sau sáp nhập?

Hưng Yên mới, gồm Hưng Yên và Thái Bình cũ, nhỏ nhất với khoảng 2,5 nghìn km². Tiếp theo là Hải Phòng mới, Hà Nội, Ninh Bình mới và Bắc Ninh mới, đều thuộc vùng châu thổ sông Hồng.

Nghệ An còn là tỉnh rộng nhất không?

Không. Nghệ An giữ nguyên diện tích khoảng 16,5 nghìn km² nhưng các tỉnh mới Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk đều lớn hơn sau khi ghép. Nghệ An hiện đứng khoảng thứ tư theo phép cộng diện tích tỉnh cũ.

TP Hồ Chí Minh hay Hà Nội rộng hơn?

Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mới khoảng 6,8 nghìn km², rộng gần gấp đôi Hà Nội khoảng 3,4 nghìn km². Trước 7/2025, Hà Nội rộng hơn. Trong sáu thành phố trực thuộc trung ương, Đà Nẵng mới là rộng nhất.

Vì sao các trang khác nhau đưa số diện tích tỉnh mới khác nhau?

Vì có trang cộng số liệu tỉnh cũ của những năm khác nhau, có trang dùng số làm tròn, có trang dùng số chính thức công bố sau sáp nhập. Chênh lệch nhỏ là bình thường; khi cần chính xác, lấy số từ cơ quan thống kê hoặc cổng thông tin tỉnh.

Diện tích tỉnh có tính phần biển không?

Diện tích tự nhiên của tỉnh thường gồm đất liền, đảo và mặt nước nội địa, không gồm vùng biển. Vì thế một tỉnh quản lý vùng biển rộng vẫn có thể có diện tích tự nhiên không lớn trên bảng xếp hạng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.