Từ ngày 1/7/2025, Việt Nam có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 6 thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ) và 28 tỉnh. Trong 34 đơn vị này, 11 đơn vị giữ nguyên như cũ; 23 đơn vị còn lại hình thành do hợp nhất từ hai hoặc ba tỉnh, thành cũ, với tên gọi lấy lại từ một trong các tỉnh cũ đó. Cùng thời điểm, cấp huyện bị bỏ, chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp: tỉnh và xã.
Bảng dưới đây là bản tra cứu gốc của cả trang Việt Nam 34: mọi bài về trung tâm hành chính, tra xã phường, du lịch hay biển số xe đều phải khớp với bảng này. Bảng ghép tỉnh cũ sang tỉnh mới được đối chiếu với dữ liệu phân chia đơn vị hành chính đang dùng cho hệ thống tra cứu của trang, và với nội dung nghị quyết của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Phần sau bảng giải thích cách đọc, những chỗ hay nhầm và các câu hỏi thường gặp.
Bảng 34 tỉnh, thành mới và các tỉnh cũ hợp thành
Bảng xếp theo thứ tự đại thể từ Bắc vào Nam. Cột "trung tâm hành chính" ghi nơi đặt trung tâm hành chính – chính trị của đơn vị mới, tính theo địa giới tỉnh cũ; với 11 đơn vị giữ nguyên thì trung tâm không đổi:
| Số | Đơn vị mới | Hợp thành từ | Trung tâm hành chính đặt tại |
|---|---|---|---|
| 1 | Thành phố Hà Nội | Giữ nguyên | Hà Nội |
| 2 | Tỉnh Cao Bằng | Giữ nguyên | Cao Bằng |
| 3 | Tỉnh Tuyên Quang | Tuyên Quang, Hà Giang | Tuyên Quang cũ |
| 4 | Tỉnh Lào Cai | Lào Cai, Yên Bái | Yên Bái cũ |
| 5 | Tỉnh Lai Châu | Giữ nguyên | Lai Châu |
| 6 | Tỉnh Điện Biên | Giữ nguyên | Điện Biên |
| 7 | Tỉnh Sơn La | Giữ nguyên | Sơn La |
| 8 | Tỉnh Lạng Sơn | Giữ nguyên | Lạng Sơn |
| 9 | Tỉnh Thái Nguyên | Thái Nguyên, Bắc Kạn | Thái Nguyên cũ |
| 10 | Tỉnh Phú Thọ | Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình | Phú Thọ cũ |
| 11 | Tỉnh Quảng Ninh | Giữ nguyên | Quảng Ninh |
| 12 | Tỉnh Bắc Ninh | Bắc Ninh, Bắc Giang | Bắc Giang cũ |
| 13 | Thành phố Hải Phòng | Hải Phòng, Hải Dương | Hải Phòng cũ |
| 14 | Tỉnh Hưng Yên | Hưng Yên, Thái Bình | Hưng Yên cũ |
| 15 | Tỉnh Ninh Bình | Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định | Ninh Bình cũ |
| 16 | Tỉnh Thanh Hóa | Giữ nguyên | Thanh Hóa |
| 17 | Tỉnh Nghệ An | Giữ nguyên | Nghệ An |
| 18 | Tỉnh Hà Tĩnh | Giữ nguyên | Hà Tĩnh |
| 19 | Tỉnh Quảng Trị | Quảng Trị, Quảng Bình | Quảng Bình cũ |
| 20 | Thành phố Huế | Giữ nguyên | Huế |
| 21 | Thành phố Đà Nẵng | Đà Nẵng, Quảng Nam | Đà Nẵng cũ |
| 22 | Tỉnh Quảng Ngãi | Quảng Ngãi, Kon Tum | Quảng Ngãi cũ |
| 23 | Tỉnh Gia Lai | Gia Lai, Bình Định | Bình Định cũ |
| 24 | Tỉnh Đắk Lắk | Đắk Lắk, Phú Yên | Đắk Lắk cũ |
| 25 | Tỉnh Khánh Hòa | Khánh Hòa, Ninh Thuận | Khánh Hòa cũ |
| 26 | Tỉnh Lâm Đồng | Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Thuận | Lâm Đồng cũ |
| 27 | Tỉnh Đồng Nai | Đồng Nai, Bình Phước | Đồng Nai cũ |
| 28 | Tỉnh Tây Ninh | Tây Ninh, Long An | Long An cũ |
| 29 | Thành phố Hồ Chí Minh | TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu | TP Hồ Chí Minh cũ |
| 30 | Tỉnh Đồng Tháp | Đồng Tháp, Tiền Giang | Tiền Giang cũ |
| 31 | Tỉnh Vĩnh Long | Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh | Vĩnh Long cũ |
| 32 | Thành phố Cần Thơ | Cần Thơ, Sóc Trăng, Hậu Giang | Cần Thơ cũ |
| 33 | Tỉnh An Giang | An Giang, Kiên Giang | Kiên Giang cũ |
| 34 | Tỉnh Cà Mau | Cà Mau, Bạc Liêu | Cà Mau cũ |
Cộng lại: 11 đơn vị giữ nguyên, 17 đơn vị ghép từ hai tỉnh cũ, 6 đơn vị ghép từ ba tỉnh cũ. Số tỉnh cũ đi vào các đơn vị ghép là 17 nhân 2 cộng 6 nhân 3, tức 52; cộng 11 đơn vị giữ nguyên ra đúng 63 tỉnh, thành cũ.
Đọc bảng thế nào cho đúng: ba cột, ba cái bẫy
Cột thứ nhất là tên chính thức của đơn vị mới. Điểm cần nhớ là không có tên tỉnh nào được đặt mới hoàn toàn: cả 34 tên đều là tên một tỉnh, thành đã có từ trước. Vì vậy khi thấy chữ "tỉnh Gia Lai" trên một văn bản ban hành sau ngày 1/7/2025, phải hiểu đó là tỉnh Gia Lai mới, bao gồm cả vùng đất của tỉnh Bình Định cũ, chứ không chỉ vùng cao nguyên quanh Pleiku như trước.
Cột thứ hai cho biết đơn vị mới gồm những tỉnh cũ nào. Ở đây toàn bộ diện tích và dân cư của tỉnh cũ đi trọn vào đơn vị mới; không có tỉnh cũ nào bị chia đôi cho hai tỉnh mới. Nhờ vậy, việc tra "tỉnh cũ của mình nay thuộc đâu" luôn có đúng một đáp án, khác với cấp xã, nơi một xã cũ có thể bị chia cho hai xã mới.
Cột thứ ba là nơi đặt trung tâm hành chính – chính trị. Bẫy lớn nhất nằm ở đây: tên tỉnh mới và nơi đặt trung tâm không phải lúc nào cũng trùng nhau. Tỉnh Gia Lai đặt trung tâm ở Bình Định cũ, tỉnh Lào Cai đặt ở Yên Bái cũ, tỉnh Bắc Ninh đặt ở Bắc Giang cũ, tỉnh Quảng Trị đặt ở Quảng Bình cũ, tỉnh Tây Ninh đặt ở Long An cũ, tỉnh Đồng Tháp đặt ở Tiền Giang cũ, tỉnh An Giang đặt ở Kiên Giang cũ. Bảy trường hợp này là nơi người đi làm giấy tờ hay đi nhầm đường nhất trong những tháng đầu.
Một chú ý về cách ghi: trang này viết "Bình Định cũ" để chỉ vùng đất của tỉnh Bình Định trước ngày 1/7/2025. Trên văn bản hành chính hiện hành, tên tỉnh cũ không còn là đơn vị hành chính, nên khi ghi địa chỉ chính thức phải dùng tên tỉnh mới và tên xã, phường mới.
Những con số nền nên thuộc
34 đơn vị cấp tỉnh. Gồm 6 thành phố trực thuộc trung ương và 28 tỉnh. Trước ngày 1/7/2025 là 63 đơn vị; riêng Huế đã lên thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 1/1/2025, nên giai đoạn ngắn đầu năm 2025 cả nước có 6 thành phố trực thuộc trung ương và 57 tỉnh.
11 đơn vị không sáp nhập. Hà Nội, Huế, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Cao Bằng. Tất cả đều nằm từ Huế trở ra Bắc; toàn bộ các tỉnh, thành phía nam Huế đều có thay đổi.
29 tên tỉnh cũ không còn là tên cấp tỉnh. 63 trừ 34 ra 29. Các tên này vẫn sống trong tên xã, phường, trong chỉ dẫn địa lý của đặc sản, trong tên trường học, bệnh viện, câu lạc bộ thể thao, nhưng không còn là tên một tỉnh.
Hai cấp chính quyền. Tỉnh và xã. Cấp xã gồm xã, phường và đặc khu. Theo dữ liệu đối chiếu của trang, cả nước có hơn 3.300 đơn vị cấp xã, trong đó có 13 đặc khu, phần lớn là các huyện đảo cũ như Vân Đồn, Cô Tô, Cát Hải, Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Lý Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc, Kiên Hải và Thổ Châu.
Không còn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Những tên như "thành phố Quy Nhơn", "huyện Hóc Môn", "thị xã Sa Pa" là tên đơn vị cũ. Vùng đất đó nay được chia thành các xã, phường trực thuộc thẳng tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương.
Vì sao tỉnh mới thường ghép tỉnh đồng bằng, ven biển với tỉnh miền núi
Nhìn trên bảng, nhiều cặp ghép không phải hai tỉnh "giống nhau" mà là hai tỉnh bổ sung cho nhau: Kon Tum ở cao nguyên ghép với Quảng Ngãi ven biển; Gia Lai ghép với Bình Định; Đắk Lắk ghép với Phú Yên; Lâm Đồng và Đắk Nông ghép với Bình Thuận. Kết quả là ở dải Tây Nguyên – Nam Trung Bộ, nhiều tỉnh mới trải dài từ biên giới phía tây ra tới bờ biển phía đông.
Ở miền Bắc, cách ghép khác: các cặp phần lớn là hai tỉnh liền kề trong cùng một vùng, có nhiều khi từng chung một tỉnh trong một giai đoạn sau năm 1975, như Bắc Ninh và Bắc Giang, Thái Nguyên và Bắc Kạn, Tuyên Quang và Hà Giang, Ninh Bình với Hà Nam và Nam Định. Ở đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh ghép theo cụm dọc sông và ven biển, như Vĩnh Long với Bến Tre và Trà Vinh, Cần Thơ với Sóc Trăng và Hậu Giang.
Trang này không bàn về lý do chính sách của từng phương án; phần giải thích đầy đủ nằm trong hồ sơ đề án và văn bản chính thức. Điều người đọc cần nắm là hệ quả thực tế: một tỉnh mới có thể có cả núi, cao nguyên, đồng bằng và biển, nên khi tra du lịch, đặc sản hay đi lại theo "tỉnh mới", phạm vi rộng hơn rất nhiều so với hình dung cũ.
Dùng bảng này cho việc gì trong đời sống hằng ngày
Việc đầu tiên là ghi địa chỉ. Địa chỉ mới có ba phần chính: số nhà và đường hoặc thôn, ấp; tên xã hoặc phường mới; tên tỉnh hoặc thành phố mới. Không còn dòng quận, huyện. Bảng 34 tỉnh cho bạn phần cuối; tên xã, phường mới phải tra riêng theo thông báo của địa phương hoặc công cụ tra cứu.
Việc thứ hai là đi làm thủ tục ở cấp tỉnh. Hồ sơ nào trước đây nộp ở sở, ngành của tỉnh cũ thì nay thuộc cơ quan của tỉnh mới. Trong giai đoạn chuyển tiếp, nhiều tỉnh vẫn duy trì điểm tiếp nhận ở trung tâm tỉnh cũ, nhưng cách bố trí mỗi nơi một khác; trước khi đi xa nên kiểm thông báo của tỉnh và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Việc thứ ba là học và dạy. Học sinh ôn địa lý, người chuẩn bị thi công chức hay đơn giản là người muốn hiểu bản tin thời sự đều cần một danh sách gốc để đối chiếu. Mẹo nhớ nhanh nhất là nhớ 11 đơn vị giữ nguyên trước, sau đó nhớ 6 tỉnh ghép ba, phần còn lại là 17 cặp ghép đôi.
Việc thứ tư là đọc giấy tờ cũ. Sổ đỏ, căn cước, giấy đăng ký xe, hợp đồng ký trước ngày 1/7/2025 vẫn ghi tỉnh cũ và huyện cũ. Bảng cho bạn biết tỉnh cũ đó nay thuộc đâu, để đối chiếu khi làm thủ tục mới; còn giấy tờ cũ có phải đổi hay không là câu chuyện riêng của từng loại giấy.
Những trường hợp hay nhầm khi đọc danh sách
Sau hơn một năm áp dụng, các câu hỏi lặp lại nhiều nhất trên mạng xã hội và ở quầy tiếp nhận hồ sơ thường rơi vào mấy điểm sau:
- Huế không còn tên "Thừa Thiên Huế". Tên chính thức là thành phố Huế, trực thuộc trung ương từ ngày 1/1/2025, và Huế không sáp nhập với tỉnh nào trong đợt tháng 7/2025.
- Vũng Tàu, Bình Dương nay thuộc TP Hồ Chí Minh. Thành phố mới trải từ vùng giáp Tây Ninh, Đồng Nai cũ ra tới biển Vũng Tàu và quần đảo Côn Đảo.
- Hải Dương thuộc Hải Phòng, không thuộc Hưng Yên. Hưng Yên mới gồm Hưng Yên và Thái Bình.
- Long An thuộc Tây Ninh, không thuộc TP Hồ Chí Minh. Dù giáp TP Hồ Chí Minh, Long An ghép với Tây Ninh và trung tâm tỉnh mới đặt ở Long An cũ.
- Kon Tum thuộc Quảng Ngãi, không thuộc Gia Lai. Gia Lai ghép với Bình Định.
- Bình Thuận thuộc Lâm Đồng, Ninh Thuận thuộc Khánh Hòa. Hai tỉnh cũ từng có thời chung một tỉnh nay đi về hai tỉnh mới khác nhau.
- Phú Quốc nay là đặc khu thuộc tỉnh An Giang. Kiên Giang cũ đi trọn vào An Giang mới.
Mỗi trường hợp trên đều có thể tự kiểm lại bằng bảng ở đầu bài: tìm tên tỉnh cũ ở cột thứ ba, đọc tên đơn vị mới ở cột thứ hai.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam hiện có bao nhiêu tỉnh, thành phố?
Từ ngày 1/7/2025, Việt Nam có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 6 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ và 28 tỉnh. Trước đó cả nước có 63 tỉnh, thành.
Những tỉnh nào không bị sáp nhập?
Có 11 đơn vị giữ nguyên: Hà Nội, Huế, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Cao Bằng. Tất cả đều nằm từ Huế trở ra phía Bắc, phía nam Huế không còn tỉnh nào giữ nguyên.
Tỉnh mới có tên gọi mới hoàn toàn không?
Không. Cả 34 đơn vị đều dùng lại tên của một tỉnh, thành đã có trước đó. Vì vậy cùng một cái tên như Gia Lai, Đồng Tháp hay An Giang, trước và sau ngày 1/7/2025 chỉ những vùng đất rộng hẹp khác nhau, cần đọc ngày ban hành văn bản để hiểu đúng.
Có tỉnh cũ nào bị chia cho hai tỉnh mới không?
Ở cấp tỉnh thì không. Mỗi tỉnh cũ đi trọn vào một đơn vị mới, nên tra tỉnh cũ chỉ ra một đáp án duy nhất. Việc chia tách, ghép nhập phức tạp chỉ xảy ra ở cấp xã, nơi một xã cũ có thể được chia cho hai xã mới.
Trung tâm hành chính tỉnh mới có luôn đặt ở tỉnh mang tên tỉnh mới không?
Không phải lúc nào cũng vậy. Có bảy trường hợp tên tỉnh và nơi đặt trung tâm lệch nhau: Gia Lai đặt ở Bình Định cũ, Lào Cai ở Yên Bái cũ, Bắc Ninh ở Bắc Giang cũ, Quảng Trị ở Quảng Bình cũ, Tây Ninh ở Long An cũ, Đồng Tháp ở Tiền Giang cũ, An Giang ở Kiên Giang cũ.
Cấp huyện còn không và địa chỉ ghi thế nào?
Cấp huyện đã bỏ từ ngày 1/7/2025, chính quyền địa phương chỉ còn cấp tỉnh và cấp xã. Địa chỉ mới ghi số nhà, đường hoặc thôn ấp, tên xã hoặc phường mới và tên tỉnh, thành mới; tên xã mới nên tra theo thông báo chính thức của địa phương.