Sau 1/7/2025, cả nước có khoảng 3.321 đơn vị cấp xã, gồm 2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu, chia cho 34 tỉnh, thành. TP Hồ Chí Minh có nhiều đơn vị nhất với 168 (113 phường, 54 xã, 1 đặc khu), tiếp theo là Thanh Hoá 166 và Phú Thọ 148. Ít nhất là Lai Châu với 38 và Huế với 40.
Bảng dưới đây liệt kê đủ 34 tỉnh, thành theo số đơn vị cấp xã, tách riêng phường, xã và đặc khu. Số liệu được đếm trên bảng đối chiếu mà trang dùng để tra cứu; có thể lệch một vài đơn vị so với văn bản cuối cùng ở một tỉnh, nên khi cần con số chính thức hãy kiểm nghị quyết của tỉnh đó. Phần sau bảng giải thích cách đọc và dùng các con số này.
Từ hơn 10.000 xuống khoảng 3.321: con số tổng
Trước sắp xếp, cả nước có hơn mười nghìn đơn vị cấp xã, gồm xã, phường và thị trấn, thuộc khoảng 696 đơn vị cấp huyện của 63 tỉnh, thành. Sau 1/7/2025, con số giảm còn khoảng một phần ba: khoảng 3.321 đơn vị, trực thuộc thẳng 34 tỉnh, thành. Trung bình mỗi tỉnh mới có gần 100 đơn vị cấp xã.
Ba loại đơn vị có quy mô rất khác nhau. Xã chiếm gần 80% tổng số, phản ánh phần lớn lãnh thổ vẫn là nông thôn, miền núi. Phường chiếm khoảng một phần năm, tập trung ở các thành phố trực thuộc trung ương và các đô thị tỉnh lỵ cũ. Đặc khu chỉ có 13, đều ở hải đảo.
Con số trung bình che đi khác biệt lớn giữa các tỉnh: nơi nhiều nhất có hơn bốn lần số đơn vị của nơi ít nhất. Khác biệt này không nói lên tỉnh nào "lớn" hay "quan trọng" hơn; nó phản ánh quy mô dân số, diện tích, mức đô thị hoá và cách mỗi tỉnh ghép xã.
Cũng nên nhớ rằng cùng một con số có thể che những cấu trúc rất khác nhau. Vĩnh Long và Lâm Đồng cùng có 124 đơn vị, nhưng một bên là ba tỉnh đồng bằng sông nước ghép lại, một bên trải từ cao nguyên Đà Lạt xuống tới biển Bình Thuận cũ và cả đặc khu Phú Quý.
Bảng số đơn vị cấp xã của 34 tỉnh, thành
Xếp theo tổng số đơn vị từ nhiều đến ít. Cột đặc khu để trống nghĩa là tỉnh không có đặc khu:
| Tỉnh, thành | Tổng | Phường | Xã | Đặc khu |
|---|---|---|---|---|
| TP Hồ Chí Minh | 168 | 113 | 54 | 1 |
| Thanh Hoá | 166 | 19 | 147 | |
| Phú Thọ | 148 | 15 | 133 | |
| Gia Lai | 135 | 25 | 110 | |
| Nghệ An | 130 | 11 | 119 | |
| Ninh Bình | 129 | 32 | 97 | |
| Hà Nội | 126 | 51 | 75 | |
| Tuyên Quang | 124 | 7 | 117 | |
| Lâm Đồng | 124 | 20 | 103 | 1 |
| Vĩnh Long | 124 | 19 | 105 | |
| Hải Phòng | 114 | 45 | 67 | 2 |
| Hưng Yên | 104 | 11 | 93 | |
| Cần Thơ | 103 | 31 | 72 | |
| An Giang | 102 | 14 | 85 | 3 |
| Đắk Lắk | 102 | 14 | 88 | |
| Đồng Tháp | 102 | 20 | 82 | |
| Lào Cai | 99 | 10 | 89 | |
| Bắc Ninh | 99 | 33 | 66 | |
| Quảng Ngãi | 96 | 9 | 86 | 1 |
| Tây Ninh | 96 | 14 | 82 | |
| Đồng Nai | 95 | 23 | 72 | |
| Đà Nẵng | 94 | 23 | 70 | 1 |
| Thái Nguyên | 92 | 15 | 77 | |
| Quảng Trị | 78 | 8 | 69 | 1 |
| Sơn La | 74 | 8 | 66 | |
| Hà Tĩnh | 69 | 9 | 60 | |
| Khánh Hoà | 65 | 16 | 48 | 1 |
| Lạng Sơn | 65 | 4 | 61 | |
| Cà Mau | 64 | 9 | 55 | |
| Cao Bằng | 56 | 3 | 53 | |
| Quảng Ninh | 54 | 30 | 22 | 2 |
| Điện Biên | 45 | 3 | 42 | |
| Huế | 40 | 21 | 19 | |
| Lai Châu | 38 | 2 | 36 |
Tổng cột phường trong bảng là 687, khớp với số phường được công bố. Tổng cột xã là 2.620, thấp hơn một đơn vị so với con số 2.621 được công bố; sai lệch nhỏ kiểu này thường do một đơn vị được điều chỉnh tên hoặc ghi nhận khác nhau giữa các bộ dữ liệu.
Đọc bảng: nơi nhiều, nơi ít và vì sao
Ba địa phương nhiều đơn vị nhất là TP Hồ Chí Minh (168), Thanh Hoá (166) và Phú Thọ (148). Lý do không giống nhau. TP Hồ Chí Minh là kết quả ghép ba địa phương đông dân là TP Hồ Chí Minh cũ, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu. Thanh Hoá không sáp nhập với tỉnh nào nhưng vốn có số xã rất lớn do dân số đông, địa bàn rộng từ đồng bằng ven biển lên miền núi. Phú Thọ mới ghép ba tỉnh cũ Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hoà Bình.
Ở đầu kia, Lai Châu (38), Huế (40), Điện Biên (45) có ít đơn vị nhất. Lai Châu và Điện Biên là tỉnh miền núi, dân số không lớn, mỗi xã mới trải trên diện tích rộng. Huế giữ nguyên ranh giới thành phố cũ và có quy mô dân số vừa phải, nên số đơn vị ít dù là thành phố trực thuộc trung ương.
Một chi tiết đáng chú ý: Quảng Ninh chỉ có 54 đơn vị dù là tỉnh lớn về kinh tế, vì nhiều đô thị như Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái đã được tổ chức thành các phường lớn, và hai huyện đảo trở thành đặc khu Vân Đồn, Cô Tô.
Ở nhóm giữa bảng, nhiều tỉnh mới có từ 90 đến 105 đơn vị như Hưng Yên, Cần Thơ, An Giang, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Lào Cai, Bắc Ninh, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Đồng Nai, Đà Nẵng, Thái Nguyên. Phần lớn đây là tỉnh hình thành từ việc ghép hai tỉnh cũ, nên con số gần nhau không phải ngẫu nhiên.
Tỷ lệ phường và xã nói lên điều gì
Tỷ lệ phường trên tổng số đơn vị là một chỉ dấu thô về mức đô thị hoá theo cách tổ chức hành chính. TP Hồ Chí Minh có 113 phường trên 168 đơn vị, tức khoảng hai phần ba. Quảng Ninh có 30 phường, nhiều hơn số xã (22). Huế có 21 phường và 19 xã. Hà Nội có 51 phường, Hải Phòng 45, Bắc Ninh 33, Ninh Bình 32, Cần Thơ 31.
Ở chiều ngược lại, nhiều tỉnh miền núi phía Bắc gần như toàn xã: Lai Châu chỉ có 2 phường, Cao Bằng và Điện Biên mỗi tỉnh 3 phường, Lạng Sơn 4 phường, Tuyên Quang 7 phường trên 124 đơn vị. Ở các tỉnh này, phường chủ yếu nằm ở thành phố tỉnh lỵ cũ.
Cần đọc con số này một cách thận trọng. Tỷ lệ phường phản ánh cách xếp loại đơn vị hành chính, không phải thước đo thu nhập hay chất lượng sống. Một xã ven đô có thể đông đúc, nhiều nhà máy hơn một phường ở thị xã nhỏ; một tỉnh nhiều xã vẫn có thể có đô thị tỉnh lỵ rất sôi động. Bảng này dùng để định hướng tra cứu, không dùng để xếp hạng địa phương, và cũng không nên đem so với số liệu kinh tế của tỉnh.
Về đặc khu, chín tỉnh, thành có đặc khu, nhiều nhất là An Giang với ba (Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu), rồi Hải Phòng và Quảng Ninh mỗi nơi hai. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Khánh Hoà, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh mỗi nơi một.
Dùng các con số này vào việc gì
Kiểm danh sách khi tra cứu hoặc nhập liệu. Nếu bạn đang lập danh mục xã, phường cho một tỉnh trong phần mềm, biểu mẫu hay bảng tính, đếm lại tổng và so với bảng. Thiếu hoặc thừa vài đơn vị là dấu hiệu dữ liệu còn dựa trên dự thảo hoặc bị trùng dòng.
Ước lượng khối lượng công việc. Doanh nghiệp giao hàng, phân phối, khảo sát cần biết một tỉnh có bao nhiêu đơn vị để chia tuyến, chia vùng. Số đơn vị cấp xã là đơn vị chia hợp lý nhất khi cấp huyện không còn.
Giải thích cho người lớn tuổi, học sinh. Con số "từ hơn mười nghìn xuống khoảng ba nghìn ba trăm" giúp người nghe hiểu ngay vì sao xã mình nay rộng hơn, nhiều thôn ấp hơn, và vì sao phải tra lại địa chỉ.
Nhận ra tỉnh nhiều tên trùng. Tỉnh nhiều xã ở Nam Bộ và miền Trung có nhiều tên Hán Việt phổ biến, nên khả năng trùng tên với tỉnh khác cao hơn. Khi làm việc với các tỉnh này, kiểm tỉnh kỹ hơn bình thường.
Tra theo miền và theo nhóm thành phố trực thuộc trung ương
Khi cần tra nhiều địa chỉ trải khắp cả nước, chia theo miền giúp làm việc có thứ tự. Nhóm sáu thành phố trực thuộc trung ương gồm Hà Nội (126), Hải Phòng (114), Huế (40), Đà Nẵng (94), TP Hồ Chí Minh (168) và Cần Thơ (103), cộng lại khoảng 645 đơn vị, gần một phần năm cả nước, và chiếm phần lớn số phường.
Ở phía Bắc, các tỉnh miền núi như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ có tổng số xã lớn nhưng ít phường; vùng đồng bằng có Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Quảng Ninh cùng Hà Nội, Hải Phòng. Ở miền Trung có chuỗi tỉnh ven biển từ Thanh Hoá đến Khánh Hoà, mà sau sáp nhập nhiều tỉnh vươn từ biển lên tới vùng cao như Quảng Ngãi gồm cả Kon Tum cũ, Gia Lai gồm cả Bình Định cũ. Tây Nguyên và phía Nam có Đắk Lắk, Lâm Đồng, rồi Đồng Nai, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây.
Cách chia này chỉ phục vụ việc tra và sắp xếp công việc. Phân vùng kinh tế – xã hội chính thức và so sánh giữa các vùng được trình bày ở mục Vùng miền và so sánh tỉnh của trang.
Vì sao các nguồn cho số lệch nhau vài đơn vị
Người tra cứu đôi khi thấy hai nguồn cho số xã của cùng một tỉnh chênh nhau một, hai đơn vị. Có ba nguyên nhân thường gặp. Thứ nhất, nguồn dựa trên phương án lấy ý kiến hồi tháng 4–5/2025, trước khi nghị quyết cuối cùng được thông qua; một số tỉnh đã thay đổi số đơn vị giữa hai thời điểm.
Thứ hai, khác biệt trong cách đếm: có nguồn tính đặc khu vào số xã, có nguồn tách riêng; có nguồn đếm theo danh sách mã đơn vị hành chính, có nguồn đếm theo tên. Thứ ba, sai sót khi nhập dữ liệu như trùng dòng, chính tả khác nhau giữa "Hòa" và "Hoà" khiến một đơn vị bị đếm hai lần.
Cách xử lý đơn giản: khi cần con số chính thức để trích dẫn, lấy từ nghị quyết sắp xếp của tỉnh hoặc thông báo của cơ quan nhà nước; khi chỉ cần biết quy mô để tra cứu, chênh lệch một vài đơn vị không làm thay đổi kết quả tra của bạn. Điều quan trọng hơn con số tổng là tên đơn vị bạn cần có đúng trong danh sách hiện hành của tỉnh hay không.
Câu hỏi thường gặp
Tỉnh, thành nào có nhiều xã, phường nhất?
TP Hồ Chí Minh có nhiều đơn vị cấp xã nhất với 168, gồm 113 phường, 54 xã và đặc khu Côn Đảo. Đứng sau là Thanh Hoá với 166 và Phú Thọ với 148.
Tỉnh nào có ít xã, phường nhất?
Lai Châu có ít nhất với 38 đơn vị, trong đó chỉ 2 phường. Tiếp theo là Huế với 40 đơn vị và Điện Biên với 45 đơn vị. Ít đơn vị không có nghĩa là tỉnh nhỏ về diện tích; ở miền núi, mỗi xã mới thường trải rất rộng.
Hà Nội có bao nhiêu xã, phường sau sáp nhập?
Theo bảng đối chiếu, Hà Nội có 126 đơn vị cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã. Hà Nội không có đặc khu vì không có huyện đảo. Phường tập trung ở vùng nội đô cũ, còn xã trải trên các huyện ngoại thành cũ như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức.
Vì sao có tỉnh nhiều phường hơn xã?
Ở những địa phương mức đô thị hoá cao như TP Hồ Chí Minh và Quảng Ninh, nhiều vùng đã được tổ chức là phường từ trước và tiếp tục là phường sau khi ghép. Huế cũng có số phường nhỉnh hơn số xã.
Con số 3.321 có tính cả đặc khu không?
Có. Con số 3.321 đơn vị cấp xã gồm 2.621 xã, 687 phường và 13 đặc khu, vì đặc khu là một loại đơn vị cấp xã. Một số nguồn tách đặc khu ra đếm riêng nên tổng của họ có thể ghi là 3.308 xã và phường cộng 13 đặc khu.
Số đơn vị cấp xã có thể thay đổi sau này không?
Có thể, nếu sau này có nghị quyết điều chỉnh địa giới, thành lập, nhập hoặc chia đơn vị hành chính. Vì vậy khi trích dẫn, nên ghi rõ thời điểm của số liệu.