Trong hai năm 1989 và 1991, Quốc hội quyết định tách 12 tỉnh lớn hình thành từ năm 1976 và lập thêm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đưa cả nước từ 40 lên 53 đơn vị cấp tỉnh. Năm 1989 tách ba tỉnh dọc miền Trung là Bình Trị Thiên, Nghĩa Bình, Phú Khánh; tháng 8/1991 tách tiếp chín tỉnh trải từ biên giới phía Bắc tới đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là đợt điều chỉnh lớn nhất kể từ năm 1976 và là lúc nhiều tên tỉnh quen thuộc hôm nay như Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lào Cai, Yên Bái trở lại bản đồ. Bài này đi qua từng tỉnh được tách, nơi đặt tỉnh lỵ khi ấy và số phận của chúng trong đợt sắp xếp năm 2025.
Bối cảnh: mười năm vận hành tỉnh lớn
Đến cuối thập niên 1980, mô hình tỉnh lớn đã chạy hơn mười năm. Những tỉnh dài dọc dải đất miền Trung bộc lộ khó khăn sớm nhất: từ huyện xa nhất lên tỉnh lỵ có khi mất cả ngày đường trên quốc lộ chưa được nâng cấp, việc chỉ đạo sản xuất, thu chi ngân sách, quản lý giáo dục, y tế đều phải đi qua một trung tâm ở rất xa. Cùng lúc, chính sách Đổi Mới từ năm 1986 khiến nhu cầu chủ động phát triển của từng vùng tăng lên, và nhiều địa phương muốn có bộ máy riêng gần dân hơn.
Một yếu tố khác ít được nhắc nhưng rất thực tế là bản sắc vùng. Những cặp tỉnh như Quảng Ngãi và Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa có lịch sử hành chính riêng từ nhiều thế kỷ, có tỉnh lỵ cũ, có hệ thống trường học, báo chí, đơn vị thể thao gắn với tên tỉnh. Khi được tách, những cái tên ấy được dùng lại gần như ngay lập tức, không phải đặt tên mới.
Các đợt tách này không làm lại toàn bộ bản đồ như năm 1976. Mỗi tỉnh mới tách cơ bản trở lại ranh giới trước khi hợp nhất, có điều chỉnh nhỏ ở một số huyện giáp ranh. Cấp huyện vẫn giữ nguyên, nên người dân đổi tên tỉnh trên giấy tờ nhưng địa chỉ cấp huyện, cấp xã gần như không đổi.
Đợt 1989: ba tỉnh dọc miền Trung
Ba tỉnh được tách cùng năm, đều là tỉnh dài theo trục Bắc – Nam:
| Tỉnh lớn | Tách thành | Tỉnh lỵ sau khi tách | Năm 2025 thuộc |
|---|---|---|---|
| Bình Trị Thiên | Quảng Bình | Đồng Hới | Quảng Trị (mới) |
| Quảng Trị | Đông Hà | Quảng Trị (mới) | |
| Thừa Thiên Huế | Huế | Thành phố Huế | |
| Nghĩa Bình | Quảng Ngãi | Quảng Ngãi | Quảng Ngãi (mới) |
| Bình Định | Quy Nhơn | Gia Lai (mới) | |
| Phú Khánh | Phú Yên | Tuy Hòa | Đắk Lắk (mới) |
| Khánh Hòa | Nha Trang | Khánh Hòa (mới) |
Chi tiết đáng nhớ ở Quảng Trị: khi tái lập năm 1989, tỉnh lỵ đặt ở Đông Hà, đô thị nằm trên quốc lộ 1 và đầu mối đường 9 sang Lào, chứ không trở về thị xã Quảng Trị cổ nằm bên sông Thạch Hãn. Năm 2025, trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Trị mới lại chuyển ra Đồng Hới, tức vùng Quảng Bình cũ.
Đợt 1991: chín tỉnh tách đôi
Đợt này được Quốc hội thông qua tháng 8/1991, trải khắp ba miền:
| Tỉnh lớn | Tách thành | Năm 2025 các phần thuộc |
|---|---|---|
| Hà Sơn Bình | Hà Tây, Hòa Bình | Hà Nội (Hà Tây đã nhập từ 2008); Phú Thọ |
| Hoàng Liên Sơn | Lào Cai, Yên Bái | Cùng về tỉnh Lào Cai |
| Hà Tuyên | Hà Giang, Tuyên Quang | Cùng về tỉnh Tuyên Quang |
| Hà Nam Ninh | Nam Hà, Ninh Bình | Cùng về tỉnh Ninh Bình |
| Nghệ Tĩnh | Nghệ An, Hà Tĩnh | Hai tỉnh giữ nguyên |
| Gia Lai – Kon Tum | Gia Lai, Kon Tum | Gia Lai; Quảng Ngãi |
| Thuận Hải | Ninh Thuận, Bình Thuận | Khánh Hòa; Lâm Đồng |
| Cửu Long | Vĩnh Long, Trà Vinh | Cùng về tỉnh Vĩnh Long |
| Hậu Giang | Cần Thơ, Sóc Trăng | Cùng về thành phố Cần Thơ |
Trong chín cặp, năm cặp năm 2025 lại về chung một đơn vị (Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Hà Nam Ninh, Cửu Long, Hậu Giang); ba cặp đi về hai tỉnh mới khác nhau (Hà Sơn Bình, Gia Lai – Kon Tum, Thuận Hải); riêng Nghệ An và Hà Tĩnh cả hai đều giữ nguyên.
Bà Rịa – Vũng Tàu: tỉnh duy nhất được lập mới trong đợt 1991
Khác với chín tỉnh tách đôi, Bà Rịa – Vũng Tàu là trường hợp lập tỉnh từ hai nguồn. Nguồn thứ nhất là Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, đơn vị tương đương cấp tỉnh lập năm 1979, gắn với ngành dầu khí ngoài khơi và cảng biển. Nguồn thứ hai là một số huyện phía nam tỉnh Đồng Nai, vùng đất Bà Rịa, Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc vốn có lịch sử gắn với Vũng Tàu từ trước.
Ban đầu tỉnh lỵ đặt ở Vũng Tàu, đô thị lớn nhất tỉnh; về sau trung tâm hành chính của tỉnh chuyển về Bà Rịa. Tên tỉnh ghép bằng gạch nối, giữ cả tên vùng đất lâu đời Bà Rịa lẫn tên thành phố biển Vũng Tàu. Đây là một trong số ít tên tỉnh ghép hình thành sau năm 1976 và tồn tại tới năm 2025.
Năm 2025, Bà Rịa – Vũng Tàu cùng Bình Dương nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh. Côn Đảo trở thành đặc khu thuộc thành phố; vùng Vũng Tàu, Bà Rịa được tổ chức thành các phường, xã mới. Cái tên Bà Rịa – Vũng Tàu từ đó không còn là tên cấp tỉnh, nhưng tên Vũng Tàu và Bà Rịa vẫn còn trong tên phường.
Hà Nội trả lại đất cho Hà Tây năm 1991
Một thay đổi đi kèm đợt 1991 ít được nhớ hơn là chuyện ranh giới Hà Nội. Cuối năm 1978, Hà Nội đã nhận thêm một số huyện và thị xã từ Hà Sơn Bình và Vĩnh Phú, trong đó có vùng Sơn Tây, Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và Mê Linh, khiến thủ đô thời đó rộng hơn hẳn. Đến năm 1991, cùng lúc tái lập tỉnh Hà Tây, phần lớn các huyện ấy được trả về Hà Tây, Mê Linh trả về Vĩnh Phú.
Vì vậy, một người sinh ở Sơn Tây có thể có giấy khai sinh ghi Hà Sơn Bình nếu sinh trước cuối năm 1978, ghi Hà Nội nếu sinh trong khoảng 1979–1991, ghi Hà Tây nếu sinh từ cuối năm 1991 đến giữa năm 2008, và lại ghi Hà Nội nếu sinh sau tháng 8/2008. Cùng một vùng đất, bốn tên tỉnh trong vòng ba mươi năm.
Ví dụ này cho thấy vì sao khi đối chiếu giấy tờ gia đình, năm cấp giấy quan trọng không kém tên địa danh. Mốc tháng cụ thể của từng lần chuyển giao có thể lệch nhau giữa các huyện; nếu cần chính xác cho việc pháp lý, nên tra hồ sơ lưu trữ của địa phương.
Những tên tỉnh lớn biến mất sau năm 1991 và còn lại ở đâu
Sau đợt 1991, các tên Bình Trị Thiên, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Hà Sơn Bình, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Hà Nam Ninh, Nghệ Tĩnh, Gia Lai – Kon Tum, Thuận Hải, Cửu Long rời khỏi bản đồ cấp tỉnh. Tên Hậu Giang tạm vắng mặt, rồi trở lại năm 2004 cho một tỉnh khác, nhỏ hơn.
Những cái tên ấy không mất hẳn. Cửu Long là tên gọi phổ biến của sông Mê Kông đoạn chảy qua Việt Nam và của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hoàng Liên Sơn là tên dãy núi có đỉnh Phan Xi Păng và tên một vườn quốc gia. Nghệ Tĩnh vẫn sống trong cách gọi vùng văn hóa xứ Nghệ, trong tên dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh năm 2014. Thuận Hải còn trong tên một số đơn vị, công trình lập từ thời ấy.
Với người làm hồ sơ, những tên này xuất hiện trên giấy khai sinh, bằng tốt nghiệp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trong khoảng 1976–1991. Cách đọc đúng là tra ngược tỉnh lớn ra tỉnh tách năm 1989 hoặc 1991, rồi từ đó ra tỉnh mới năm 2025 theo bảng ở trên.
Gia Lai và Kon Tum: tách năm 1991, năm 2025 đi hai ngả
Gia Lai – Kon Tum là tỉnh lớn nhất Tây Nguyên thời 1976–1991, trải từ biên giới Lào ở cực bắc xuống tới vùng giáp Đắk Lắk, Phú Yên, tỉnh lỵ ở Pleiku. Diện tích rất rộng, dân cư thưa, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở xa trung tâm, nên việc tách thành hai tỉnh năm 1991 được nhìn nhận là hợp lý. Kon Tum lấy lại tỉnh lỵ ở thị xã Kon Tum bên sông Đắk Bla.
Ba mươi tư năm sau, hai vùng không về lại với nhau. Gia Lai ghép với Bình Định, trung tâm hành chính đặt ở Quy Nhơn; Kon Tum ghép với Quảng Ngãi, trung tâm đặt ở vùng Quảng Ngãi cũ. Cả hai tỉnh mới đều có dạng trải từ cao nguyên ra biển, nối Tây Nguyên với các cảng ven biển miền Trung.
Với người dân vùng Kon Tum, điều này có nghĩa là trong vòng năm mươi năm, quê mình đã thuộc ba tỉnh mang ba tên khác nhau: Gia Lai – Kon Tum, Kon Tum, rồi Quảng Ngãi. Khi kê khai lý lịch, nên ghi đúng tên tỉnh theo từng giai đoạn và giữ bản sao giấy tờ gốc để giải thích khi cần.
Sau khi tách: tên mới đi vào đời sống nhanh đến đâu
Kinh nghiệm của các đợt 1989 và 1991 cho thấy tên tỉnh mới đi vào văn bản hành chính ngay từ ngày hiệu lực, nhưng đi vào đời sống chậm hơn nhiều. Biển hiệu cơ quan, con dấu, mẫu giấy tờ được thay trong vài tháng; trường học, bệnh viện, báo đài địa phương đổi tên dần trong một hai năm; còn cách gọi của người dân thì kéo dài hàng chục năm. Đến nay vẫn có người lớn tuổi ở Quảng Bình nói "hồi còn Bình Trị Thiên" như một mốc thời gian.
Một hệ quả ít ai để ý là giấy tờ cấp trong giai đoạn chuyển tiếp. Trong vài tháng sau ngày hiệu lực, một số nơi vẫn dùng mẫu in sẵn tên tỉnh cũ, có khi đóng dấu cơ quan tỉnh mới lên mẫu cũ. Những giấy tờ ấy vẫn hợp lệ, nhưng khi đối chiếu sau này dễ gây thắc mắc. Năm 2025 cũng có hiện tượng tương tự trong những tuần đầu tháng 7, khi nhiều nơi vừa làm việc vừa cập nhật hệ thống và mẫu biểu.
Bài học thực tế cho người đọc hôm nay: không cần vội vàng thay mọi giấy tờ vì đổi tên tỉnh, nhưng nên dùng tên mới cho mọi hồ sơ lập sau ngày hiệu lực, và giữ cẩn thận giấy tờ cũ cùng thông tin về mốc chia tách để giải thích khi được hỏi.
Câu hỏi thường gặp
Tỉnh Bình Trị Thiên tách ra năm nào?
Bình Trị Thiên tách năm 1989 thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Từ ngày 1/7/2025, Quảng Bình và Quảng Trị hợp thành tỉnh Quảng Trị mới, còn Huế đã là thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 1/1/2025.
Tỉnh Thuận Hải gồm những tỉnh nào và nay thuộc đâu?
Thuận Hải gồm vùng Ninh Thuận và Bình Thuận, tồn tại từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh lỵ ở Phan Thiết. Năm 2025, vùng Ninh Thuận cũ thuộc tỉnh Khánh Hòa, còn vùng Bình Thuận cũ thuộc tỉnh Lâm Đồng.
Năm 1991 có bao nhiêu tỉnh được tách?
Đợt tháng 8/1991 tách chín tỉnh lớn thành mười tám tỉnh, đồng thời lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu từ Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo và một phần Đồng Nai. Sau đợt này cả nước có 53 tỉnh, thành.
Tỉnh Hà Tuyên là tỉnh nào?
Hà Tuyên là tỉnh gộp Hà Giang và Tuyên Quang, tồn tại từ năm 1976 đến năm 1991, tỉnh lỵ ở Tuyên Quang. Năm 2025 hai vùng này lại hợp thành tỉnh Tuyên Quang mới, trung tâm hành chính đặt ở vùng Tuyên Quang cũ.
Vì sao tỉnh lỵ Quảng Trị đặt ở Đông Hà mà không ở thị xã Quảng Trị?
Khi tái lập năm 1989, Đông Hà được chọn vì nằm ở ngã ba quốc lộ 1 và đường 9, thuận giao thông và có điều kiện mở rộng. Thị xã Quảng Trị cổ nhỏ hơn và từng bị tàn phá nặng trong chiến tranh. Năm 2025 trung tâm tỉnh mới đặt ở Đồng Hới.
Giấy tờ ghi tỉnh Cửu Long thì nay là tỉnh nào?
Cửu Long gồm vùng Vĩnh Long và Trà Vinh, tách năm 1991. Từ ngày 1/7/2025, cả hai vùng này cùng Bến Tre thuộc tỉnh Vĩnh Long mới, nên giấy tờ ghi Cửu Long nay đối chiếu sang tỉnh Vĩnh Long.