Thanh Khê là phường thuộc Thành phố Đà Nẵng, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ năm phường Xuân Hà, Chính Gián, Thạc Gián, Thanh Khê Tây và Thanh Khê Đông của quận Thanh Khê cũ. Phường rộng 7,92 km², dân số 201.240 người – đông nhất thành phố.
Tổng quan
Hơn hai trăm nghìn người sống trên chưa đầy 8 km²: phường Thanh Khê là đơn vị cấp xã đông dân nhất của Thành phố Đà Nẵng sau sắp xếp năm 2025, với 201.240 người trên 7,92 km², mật độ khoảng 25.400 người/km². Phường trải từ bờ vịnh Đà Nẵng ở phía bắc xuống tới vùng giáp sân bay ở phía nam, gần như trùng với lõi của quận Thanh Khê cũ.
Trên địa bàn có ga Đà Nẵng trên tuyến đường sắt Bắc – Nam, đình Thạc Gián (di tích quốc gia), các làng chài ven biển Thanh Khê, Xuân Hà cũ và một mạng lưới phố buôn bán dày đặc dọc Điện Biên Phủ, Hàm Nghi, Lê Duẩn, Hùng Vương. Trụ sở UBND phường đặt tại số 503 đường Trần Cao Vân.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên từ đâu ra. Phường mới kế thừa tên quận Thanh Khê (lập năm 1997) và hai phường Thanh Khê Tây, Thanh Khê Đông – vốn chia ra năm 2005 từ phường Thanh Lộc Đán. Trước đó, Thanh Khê là tên một làng (về sau là một khu phố) ven vịnh Đà Nẵng; theo tài liệu về lịch sử địa phương được Wikipedia tổng hợp, danh xưng "xứ Thanh Khê" đã có từ khá sớm và gắn với một khe nước chảy ra biển – nay là sông Phú Lộc đổ ra vịnh ở vùng Thanh Khê Đông cũ. Năm 1901, làng Thanh Khê nằm trong số các xã của huyện Hòa Vang bị cắt nhập vào nhượng địa Đà Nẵng.
Phương án đặt tên ngày 22/4/2025 của Thành ủy dự kiến hai phường: Thạc Gián (Xuân Hà, Chính Gián, Thạc Gián) và Thanh Khê (Thanh Khê Đông, Thanh Khê Tây, An Khê). Sau điều chỉnh ngày 23/4/2025, An Khê tách sang một phường riêng, còn năm phường còn lại gộp dưới tên chung Thanh Khê; tên Thạc Gián thôi là tên phường nhưng vẫn là tên đình, tên làng cũ trong lòng phường.
Phân tích Hán Việt. Khê 溪 là khe, suối, dòng nước nhỏ. Âm thanh có hai chữ hay gặp trong địa danh: 清 (trong, trong trẻo) và 青 (xanh). Cách viết phổ biến là 清溪 – "khe nước trong"; lời giải "khe nước xanh" trong một số tài liệu lại ứng với chữ 青. Chưa đối chiếu được văn bản chữ Hán của làng, nên cả hai khả năng được ghi lại. Từ điển wiki.ngonngu có mục từ Thanh Khê ghi đây là tên một quận của Đà Nẵng.
Trùng tên. Cả nước chỉ có một đơn vị cấp xã tên Thanh Khê.
Địa lý
Phía bắc phường là vịnh Đà Nẵng; phía đông giáp phường Hải Châu; phía nam giáp phường An Khê và Hòa Cường; phía tây giáp phường Hòa Khánh.
Địa hình là dải đất cát ven vịnh, bằng phẳng, xen các bàu nước cũ (như bàu Thạc Gián) đã được thu hẹp trong quá trình đô thị hóa. Bờ biển phía bắc chạy theo đường Nguyễn Tất Thành, là bãi cát nằm trong lòng vịnh, sóng nhỏ hơn bờ đông Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn. Khí hậu chung của Đà Nẵng: nóng ẩm, mùa mưa – bão từ tháng 9 đến tháng 12.
Lịch sử
Làng ven vịnh và nhượng địa
Vùng đất phía nam đèo Hải Vân, trong đó có Thanh Khê, thuộc hẳn về Đại Việt từ năm 1402, khi Champa cắt đất Chiêm Động và Cổ Lũy cho nhà Hồ. Các làng Thạc Gián, Thanh Khê, Xuân Hòa, Đông Hà Khê, Xuân Đán… thuộc huyện Hòa Vang; năm 1901, những làng này nằm trong số các xã được cắt nhập vào nhượng địa Đà Nẵng. Bia miếu Âm linh ở đình Thạc Gián ghi "Thạc Gián xã Nghĩa trủng", lập năm Thành Thái thứ 19 (1907).
Quận II và quận Thanh Khê
Năm 1955, quận II của thị xã Đà Nẵng có 10 khu phố, trong đó có Thạc Gián, Hà Khê, An Khê, Thanh Khê, Xuân Hòa, Chính Trạch, Tam Tòa; năm 1973 chia lại thành các phường Chính Gián, Thạc Gián, An Khê, Thanh Lộc Đán, Hà Tam Xuân. Sau năm 1976, quận II có tám phường An Khê, Chính Gián, Tam Thuận, Tân Chính, Thanh Lộc Đán, Thạc Gián, Vĩnh Trung, Xuân Hà. Ngày 23/1/1997 quận Thanh Khê được lập trên cơ sở khu vực II.
- 5/8/2005 – Chia phường Thanh Lộc Đán thành Thanh Khê Đông và Thanh Khê Tây; lập phường Hòa Khê.
- 24/10/2024 – Nhập Hòa Khê vào Thanh Khê Đông, Tam Thuận vào Xuân Hà, Vĩnh Trung vào Thạc Gián, Tân Chính vào Chính Gián; nhập 1,03 km² và 15.220 người của phường Hòa Minh (quận Liên Chiểu) vào Thanh Khê Tây.
- 1/7/2025 – Theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15, toàn bộ Xuân Hà, Chính Gián, Thạc Gián, Thanh Khê Tây, Thanh Khê Đông hợp thành phường Thanh Khê. Sau sắp xếp phường có 532 tổ dân phố, về sau sắp xếp lại còn 80 tổ.
Dân cư – xã hội
Mật độ khoảng 25.400 người/km² là mức cao nhất Đà Nẵng. Dân cư gồm các cộng đồng làng gốc (Thạc Gián, Thanh Khê, Xuân Hà, Hà Khê), người từ nông thôn Quảng Nam và các tỉnh lên lập nghiệp sau năm 1975, cùng cư dân của nhiều khu tái định cư ven biển. Ngư dân vùng Thanh Khê – Xuân Hà xưa sống bằng nghề biển; nay phần lớn chuyển sang buôn bán, dịch vụ, làm công nhân và viên chức.
Hương ước cũ của làng Thạc Gián nêu thứ tự "trọng sĩ, sau mới trọng tước", cho thấy truyền thống coi trọng học hành của làng. Phường có nhiều trường học các cấp và cơ sở y tế kế thừa từ quận cũ; tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cá Ông của cư dân ven biển và các tôn giáo Phật giáo, Công giáo, Cao Đài cùng hiện diện.
Kinh tế
Kinh tế phường chủ yếu là thương mại – dịch vụ: các trục Điện Biên Phủ, Hàm Nghi, Lê Duẩn, Trần Cao Vân, Hà Huy Tập tập trung cửa hàng, chợ dân sinh, dịch vụ ăn uống và văn phòng. Ga Đà Nẵng tạo nên cụm dịch vụ vận tải, lưu trú quanh đường Hải Phòng. Nghề cá từng là sinh kế chính của làng biển Xuân Hà, Thanh Khê – theo số liệu được trích trên Wikipedia, năm 2005 đội tàu của ngư dân vùng này có khoảng 160 chiếc; nay quy mô nghề biển đã thu hẹp nhiều so với dịch vụ đô thị.
Văn hóa – di tích
- Đình Thạc Gián – di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, xếp hạng tháng 8/2007 (vùng phường Chính Gián cũ). Khuôn viên gồm đình làng, nhà Hồi hương (thời đình còn tranh tre từng là dịch trạm cho quân lính, quan lại từ Huế vào), nhà Trù và miếu Âm linh; bia miếu khắc "Thạc Gián xã Nghĩa trủng" (1907).
- Tín ngưỡng ngư dân: lễ cầu ngư đầu năm âm lịch và thờ cá Ông ở vùng biển Thanh Khê – Xuân Hà cũ, như nhiều làng biển miền Trung.
- Ga Đà Nẵng – nhà ga hình thành khi tuyến đường sắt Đà Nẵng – Đông Hà thông xe năm 1905.
- Ẩm thực: các quán mì Quảng, bánh xèo, bún chả cá, gỏi cá trong khu dân cư ven biển và chợ dân sinh.
Giao thông
Ga Đà Nẵng trên đường Hải Phòng là ga hành khách chính của thành phố. Các trục Điện Biên Phủ, Lê Duẩn nối khu trung tâm với hướng tây (Ngã ba Huế, Quốc lộ 1); đường Nguyễn Tất Thành chạy ven vịnh nối sang Liên Chiểu – Hải Vân. Phường giáp khu vực Sân bay quốc tế Đà Nẵng ở phía nam.
Bản đồ Phường Thanh Khê
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Thanh Khê được lập từ 5 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Thanh Khê Đông | Quận Thanh Khê | Thành phố Đà Nẵng | toàn bộ |
| Phường Thạc Gián | Quận Thanh Khê | Thành phố Đà Nẵng | toàn bộ |
| Phường Chính Gián | Quận Thanh Khê | Thành phố Đà Nẵng | toàn bộ |
| Phường Xuân Hà | Quận Thanh Khê | Thành phố Đà Nẵng | toàn bộ |
| Phường Thanh Khê Tây | Quận Thanh Khê | Thành phố Đà Nẵng | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Thanh Khê gồm những phường cũ nào?
Toàn bộ năm phường Xuân Hà, Chính Gián, Thạc Gián, Thanh Khê Tây và Thanh Khê Đông thuộc quận Thanh Khê cũ.
Phường Thanh Khê có bao nhiêu dân?
201.240 người trên 7,92 km² – đơn vị cấp xã đông dân nhất Đà Nẵng, mật độ khoảng 25.400 người/km².
Tên Thanh Khê có nghĩa là gì?
Khê 溪 là khe, dòng nước nhỏ; Thanh thường viết 清 (trong). Cách hiểu phổ biến là "khe nước trong"; có tài liệu giải "khe nước xanh", gắn với dòng nước nay là sông Phú Lộc chảy ra vịnh.
Đình Thạc Gián nằm ở đâu?
Trong phường Thanh Khê (vùng phường Chính Gián cũ); đình được xếp hạng di tích quốc gia tháng 8/2007.
Ga Đà Nẵng thuộc phường nào?
Thuộc phường Thanh Khê sau sắp xếp năm 2025.
Cùng Quận Thanh Khê trước đây
- Phường An Khê 93.625
← Toàn bộ 94 xã, phường của Đà Nẵng Tra tên xã cũ → mới