Kiến An là phường thuộc thành phố Hải Phòng, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở một phần các phường Đồng Hòa, Bắc Sơn, Trần Thành Ngọ, Nam Sơn, Văn Đẩu của quận Kiến An cũ. Phường rộng 11,18 km², dân số 67.236 người, là khu trung tâm của thị xã – tỉnh lỵ Kiến An xưa, nằm bên bờ nam sông Lạch Tray.
Tổng quan
Trong nửa đầu thế kỷ XX, Kiến An là tỉnh lỵ của một tỉnh riêng bao quanh thành phố Hải Phòng. Phường Kiến An hôm nay giữ tên ấy và là phần phía bắc, đông bắc của quận Kiến An cũ, gồm vùng Đồng Hòa (đã nhập Quán Trữ, Lãm Hà), Bắc Sơn, Trần Thành Ngọ. Trụ sở phường đặt tại trụ sở cũ của Quận ủy, HĐND, UBND quận Kiến An, số 2 Cao Toàn.
Phường rộng 11,18 km², dân số 67.236 người, mật độ khoảng 6.000 người/km². Điều đặc biệt là phường mới không nhận trọn phường cũ nào: cả năm phường cũ đều bị chia giữa Kiến An và Phù Liễn – hai phường tách từ quận Kiến An.
Theo Wikipedia tiếng Việt, phía bắc phường giáp An Biên và An Hải qua sông Lạch Tray; phía đông giáp Hưng Đạo; phía tây và nam giáp Phù Liễn.
Tên gọi và ý nghĩa
Phường kế thừa tên quận Kiến An (1994–2025), mà trước đó là tên thị xã, và xa hơn là tên một tỉnh. Chữ Hán: 建安. Kiến 建 là dựng, lập, xây; an 安 là yên ổn. "Kiến An" nghĩa là dựng nên sự yên ổn – kiểu tên mang ý chúc tụng thường gặp trong địa danh hành chính Hán Việt.
Lịch sử tên gắn với tỉnh Kiến An thời Pháp thuộc. Các nguồn có chỗ khác nhau về giai đoạn đầu: bài Hải Phòng trên Wikipedia ghi phần còn lại của tỉnh Hải Phòng (sau khi tách thành phố năm 1889) về sau mang tên tỉnh Phù Liễn, đến năm 1906 đổi thành Kiến An; bài quận Kiến An lại ghi tỉnh Kiến An lập từ năm 1888, đổi thành Phù Liễn tháng 8/1902 và lấy lại tên Kiến An tháng 2/1906. Hai nguồn thống nhất ở mốc 1906: từ đó tỉnh mang tên Kiến An, tỉnh lỵ là thị xã Kiến An, cho đến khi tỉnh hợp nhất vào Hải Phòng ngày 27/10/1962.
Sau 1962, tên Kiến An được dùng cho thị xã, rồi huyện Kiến An (1980), thị xã Kiến An (1988) và quận Kiến An (1994). Năm 2025, khi quận chia đôi, phần có trụ sở quận cũ giữ tên Kiến An, phần còn lại lấy tên Phù Liễn – tên tỉnh trong giai đoạn 1902–1906. Cả nước chỉ có một đơn vị cấp xã tên Kiến An.
Địa lý
Vùng Kiến An khác hẳn phần còn lại của khu đô thị trung tâm vì có đồi núi thấp nổi lên giữa đồng bằng: các tên Bắc Sơn, Nam Sơn, Ngọc Sơn, Đẩu Sơn đều gắn với chữ sơn (núi). Nổi tiếng nhất là đồi Thiên Văn với rừng thông, nơi người Pháp đặt đài quan trắc thời tiết; Wikipedia gọi đây là đài thiên văn (khí tượng) lớn của miền Bắc và cho biết tên tỉnh Phù Liễn từng lấy theo tên đồi này. Tổ dân phố Thiên Văn của phường Kiến An (lập từ 1/7/2026) mang tên ngọn đồi.
Phía bắc phường là sông Lạch Tray, ranh giới với vùng Lê Chân, An Dương cũ. Quận Kiến An cũ có sông Đa Độ ở phía nam, ranh giới với Kiến Thụy. Khí hậu nhiệt đới gió mùa của đồng bằng ven biển; vùng đồi cây xanh có vi khí hậu mát hơn khu phố xung quanh.
Lịch sử
Tỉnh lỵ Kiến An
Tháng 11/1946, tỉnh Kiến An và Hải Phòng từng hợp thành liên tỉnh Hải – Kiến nhưng một tháng sau lại tách, tỉnh lỵ là thị xã Kiến An. Năm 1949 tỉnh gồm các huyện Tiên Lãng, Hải An, An Lão, An Dương, Kiến Thụy; năm 1950 nhận thêm Thủy Nguyên, cuối năm 1952 nhận Vĩnh Bảo. Ngày 27/10/1962 Quốc hội hợp nhất tỉnh Kiến An vào thành phố Hải Phòng.
Thị xã và quận
Ngày 5/3/1980 (Quyết định 72-CP), huyện Kiến An được lập từ thị xã Kiến An và 16 xã của huyện An Thụy. Ngày 6/6/1988 (Quyết định 100-HĐBT), tái lập thị xã Kiến An gồm thị trấn Kiến An và các xã Bắc Hà, Đồng Hòa, Nam Hà; huyện Kiến An đổi tên thành An Lão. Năm 1989 phường Lê Quốc Uy nhập vào Trần Thành Ngọ, lập phường Quán Trữ từ một phần Đồng Hòa. Ngày 29/8/1994 (Nghị định 100-CP), thị xã thành quận Kiến An với 9 phường; năm 2007 Quán Trữ chia lập thêm Lãm Hà; từ 1/1/2025 Quán Trữ và Lãm Hà nhập vào Đồng Hòa.
Sắp xếp năm 2025
Theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15, phường Kiến An gồm một phần của năm phường cũ (số liệu đề án, Wikipedia dẫn lại):
- Đồng Hòa: 6,64 km², 41.005 người;
- Bắc Sơn: 2,16 km², 11.602 người;
- Trần Thành Ngọ: 1,08 km², 10.629 người;
- Nam Sơn: 1,15 km², 3.000 người;
- Văn Đẩu: 0,15 km², 1.000 người.
Phần còn lại các phường này thuộc phường Phù Liễn. Lúc thành lập có 43 tổ dân phố; từ 1/7/2026 sắp xếp còn 21 tổ.
Dân cư – xã hội
Vùng Đồng Hòa cũ chiếm gần 61% dân số phường. Tên tổ dân phố cho thấy nền làng cũ dày đặc: Mỹ Khê, Trữ Khê, Lãm Khê, Phương Khê, Đống Khê, Tân Khê, Cựu Viên, Kha Lâm, Vườn Chay. Nhiều tổ lại đặt theo tên phố – Lê Duẩn, Trường Chinh, Trần Nhân Tông, Lê Quốc Uy, Trần Huy Liệu – là những trục mới của khu Kiến An mở rộng.
Quận Kiến An cũ có mạng lưới trường học dày, cùng Trường Đại học Hải Phòng và nhiều trường cao đẳng (danh sách theo Wikipedia); một phần trong số đó nằm ở phường Kiến An, phần khác ở Phù Liễn. Tên phường cũ Trần Thành Ngọ và Lê Quốc Uy lấy theo tên những nhân vật hoạt động cách mạng.
Kinh tế
Wikipedia mô tả cơ cấu kinh tế quận Kiến An cũ gồm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại – du lịch – dịch vụ và nông nghiệp, với khu công nghiệp Quán Trữ tập trung nhiều nhà máy công nghiệp nhẹ – vùng Quán Trữ nay nằm trong phường Kiến An (qua phường Đồng Hòa). Trục Trường Chinh, Lê Duẩn, Trần Nhân Tông là nơi buôn bán, dịch vụ chính; vùng ven sông Lạch Tray còn ruộng, ao chuyển dần sang đất ở.
Văn hóa
Đồi Thiên Văn với rừng thông là không gian xanh và điểm ngắm cảnh của người Kiến An; quận cũ còn có hồ Hạnh Phúc được kè, trồng cây làm công viên. Các làng "Khê" cũ của Đồng Hòa vẫn giữ đình, chùa, miếu và hội làng đầu xuân theo nếp làng đồng bằng ven biển.
Kiến An còn mang ký ức một tỉnh lỵ: những phố cũ quanh trụ sở hành chính, các trường học lâu năm, và các tên phố, tên phường đặt theo người có công của địa phương.
Giao thông
Các trục Trường Chinh, Trần Nhân Tông, Lê Duẩn nối Kiến An với trung tâm thành phố qua các cầu bắc sông Lạch Tray (theo Wikipedia, cầu Kiến An và cầu Lãm Khê nối sang vùng An Dương, cầu Bùi Viện nối sang vùng Lê Chân); các trục này đồng thời dẫn xuống phía Kiến Thụy, Đồ Sơn. Sân bay Kiến An là sân bay quân sự trong vùng quận cũ.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, phường Kiến An, thành phố Hải Phòng". Vì không phường cũ nào nhập trọn, mọi cư dân của Đồng Hòa, Bắc Sơn, Trần Thành Ngọ, Nam Sơn, Văn Đẩu cũ đều cần đối chiếu tổ dân phố để biết mình thuộc Kiến An hay Phù Liễn.
Bản đồ Phường Kiến An
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Kiến An được lập từ 5 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Bắc Sơn | Quận Kiến An | Thành phố Hải Phòng | một phần |
| Phường Đồng Hòa | Quận Kiến An | Thành phố Hải Phòng | một phần |
| Phường Nam Sơn | Quận Kiến An | Thành phố Hải Phòng | một phần |
| Phường Trần Thành Ngọ | Quận Kiến An | Thành phố Hải Phòng | một phần |
| Phường Văn Đẩu | Quận Kiến An | Thành phố Hải Phòng | một phần |
Hỏi đáp nhanh
Phường Kiến An gồm những phường cũ nào?
Một phần các phường Đồng Hòa, Bắc Sơn, Trần Thành Ngọ, Nam Sơn và Văn Đẩu của quận Kiến An cũ; không phường cũ nào được nhập trọn.
Tên Kiến An có nghĩa là gì?
Kiến An (建安) nghĩa là dựng nên sự yên ổn: kiến 建 là dựng, an 安 là yên. Đây là tên tỉnh Kiến An (từ 1906 đến 1962), sau là thị xã và quận Kiến An.
Phường Kiến An rộng bao nhiêu, bao nhiêu dân?
11,18 km² và 67.236 người.
Phường Kiến An và Phù Liễn khác nhau thế nào?
Cả hai tách từ quận Kiến An cũ. Kiến An là phần phía bắc, đông bắc (vùng Đồng Hòa, Bắc Sơn, Trần Thành Ngọ); Phù Liễn là phần phía tây, nam gồm Bắc Hà, Ngọc Sơn và phần lớn Văn Đẩu, Nam Sơn.
Cùng Quận Kiến An trước đây
- Phường Phù Liễn 60.733
← Toàn bộ 114 xã, phường của Hải Phòng Tra tên xã cũ → mới