Kiến Thụy là xã thuộc thành phố Hải Phòng, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ thị trấn Núi Đối, các xã Thanh Sơn, Thuận Thiên, Hữu Bằng và một phần xã Kiến Hưng (vùng Thụy Hương cũ) của huyện Kiến Thụy cũ. Xã rộng 20,18 km², dân số 38.020 người, gồm huyện lỵ Núi Đối bên sông Đa Độ và làng Hòa Liễu – nơi có lễ hội Minh Thề.
Tổng quan
Xã Kiến Thụy là trung tâm của vùng Kiến Thụy cũ: trụ sở xã đặt tại trụ sở UBND huyện Kiến Thụy cũ, số 8 đường Mạc Thái Tổ (thị trấn Núi Đối). Theo Wikipedia, tại đây dòng sông Đa Độ mở rộng như một hồ nước lớn, núi Đối soi bóng xuống sông. Trong xã có làng Hòa Liễu với lễ hội Minh Thề – di sản văn hóa phi vật thể quốc gia – và chùa Hòa Liễu thờ thân mẫu vua Mạc Đăng Dung.
Xã rộng 20,18 km² (khoảng 96% chuẩn diện tích), dân số 38.020 người – gấp hơn hai lần chuẩn – mật độ khoảng 1.880 người/km².
Theo Wikipedia tiếng Việt, xã giáp phường Phù Liễn và Hưng Đạo ở phía bắc qua sông Đa Độ; xã Kiến Hưng ở phía nam; Kiến Minh ở phía đông; An Hưng và Nghi Dương ở phía tây.
Tên gọi và ý nghĩa
Xã kế thừa tên huyện Kiến Thụy. Theo Wikipedia, năm 1837 (có nguồn ghi 1838) vua Minh Mạng lập phủ Kiến Thụy (建瑞府) gồm bốn huyện Nghi Dương, An Lão, Kim Thành, An Dương. Thời Pháp thuộc (1925) huyện Nghi Dương đổi thành phủ Kiến Thụy thuộc tỉnh Kiến An; sau Cách mạng tháng Tám bỏ cấp phủ, thành huyện Kiến Thụy. Như vậy tên phủ nhà Nguyễn dần thay thế tên huyện Nghi Dương có từ năm 1469.
Chữ Hán: 建瑞. Kiến 建 là dựng, lập; thụy 瑞 là điềm lành, ngọc lành (như trong "tường thụy"). "Kiến Thụy" là dựng nên điềm lành – một tên mang ý chúc tụng. Chữ Kiến 建 cũng có trong tên Kiến An – tỉnh và thị xã láng giềng – và được dùng làm chữ đầu cho bốn trong năm xã mới của vùng: Kiến Thụy, Kiến Minh, Kiến Hưng, Kiến Hải (xã còn lại lấy lại tên cổ Nghi Dương).
Lưu ý chính tả: tên thường viết Kiến Thụy, có văn bản viết Kiến Thuỵ (khác vị trí dấu). Cả nước chỉ có một đơn vị cấp xã tên Kiến Thụy.
Địa lý
Xã nằm trên đồng bằng ven sông ở trung tâm vùng Kiến Thụy, phía bắc là sông Đa Độ – ranh giới với vùng Kiến An, Dương Kinh. Núi Đối là ngọn núi nhỏ ở khu trung tâm, cùng sông Đa Độ tạo nên cảnh quan được Wikipedia mô tả là "non nước hữu tình". Đất đai chủ yếu là ruộng lúa, ao hồ và khu dân cư làng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển.
Lịch sử
Đất Nghi Dương và nhà Mạc
Năm 1469 vua Lê Thánh Tông cắt đất huyện An Lão lập huyện Nghi Dương, gồm đất Kiến Thụy, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An ngày nay. Mạc Đăng Dung sinh năm 1483 ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương; vùng này là đất phát tích nhà Mạc thế kỷ XVI.
Huyện lỵ Núi Đối
Theo Wikipedia, sau 1962 huyện Kiến Thụy thuộc Hải Phòng; năm 1969 nhập với An Lão thành An Thụy; năm 1980 phần Kiến Thụy cũ cùng thị xã Đồ Sơn thành huyện Đồ Sơn (huyện lỵ đặt ở xã Thanh Sơn). Ngày 14/2/1987 thị trấn Núi Đối – huyện lỵ – được lập từ một phần các xã Minh Tân, Thanh Sơn. Năm 1988 huyện Đồ Sơn đổi tên thành Kiến Thụy. Ngày 22/7/2022, huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (Quyết định 881/QĐ-TTg). Ngày 1/1/2025 xã Kiến Hưng được lập từ Đại Hà, Ngũ Đoan, Thụy Hương.
Sắp xếp năm 2025
Theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15, xã Kiến Thụy gồm (số liệu đề án, Wikipedia dẫn lại):
- toàn bộ thị trấn Núi Đối (1,44 km², 4.694 người);
- toàn bộ các xã Thanh Sơn (3,65 km², 7.166 người), Thuận Thiên (5,28 km², 9.576 người), Hữu Bằng (6,66 km², 10.391 người);
- một phần xã Kiến Hưng – vùng xã Thụy Hương cũ (3,15 km², 6.193 người).
Theo Thông báo 71/TB-UBND ngày 10/7/2026, xã có 15 thôn: Cầu Đen, Cẩm Hoàn, Cẩm La, Hòa Liễu, Kim Đới 1, Kim Đới 2, Phương Đôi, Quế Lâm, Tam Kiệt, Thọ Xuân, Trà Phương, Văn Hòa, Xuân La, Xuân Úc, Úc Gián.
Dân cư – xã hội
Dân cư tập trung ở khu Núi Đối – trung tâm hành chính cũ của huyện – và các làng Hòa Liễu, Trà Phương, Kim Đới, Cẩm La, Xuân La, Quế Lâm. Từ năm 1987 đến 2025, thị trấn Núi Đối là nơi đặt các cơ quan của huyện. Đời sống tín ngưỡng phong phú với chùa Hòa Liễu, chùa Thiên Phúc (Trà Phương) và đình làng.
Kinh tế
Theo Wikipedia, kinh tế huyện Kiến Thụy cũ có tỷ lệ lao động nông nghiệp, chăn nuôi cao, ít làng nghề; sản vật được kể tên gồm thun thún, nếp xoắn. Khu Núi Đối là trung tâm thương mại – dịch vụ của vùng. Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng chạy qua huyện cũ hơn 10 km.
Văn hóa – di tích
- Lễ hội Minh Thề tại đền – chùa Hòa Liễu: nghi lễ "Minh Thề" thể hiện quan niệm dân gian về sự liêm chính và trách nhiệm của người làm việc chung; là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (theo bài Hải Phòng trên Wikipedia).
- Chùa Hòa Liễu (xã Thuận Thiên cũ) – thờ Đức Thánh Mẫu, thân mẫu vua Mạc Đăng Dung, theo Wikipedia hầu như còn nguyên vẹn.
- Chùa Thiên Phúc (chùa Trà Phương) – lưu giữ nhiều pho tượng quý.
Xã cùng chung không gian di sản nhà Mạc với khu tưởng niệm Vương triều Mạc ở xã Kiến Hưng liền kề phía nam.
Giao thông
Đường Mạc Thái Tổ là trục chính khu trung tâm. Theo Wikipedia, huyện Kiến Thụy cũ có cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (hơn 10 km), dự án cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng, các tỉnh lộ 361, 362, 363 và giao thông thủy trên sông Văn Úc, sông Đa Độ.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng". Cư dân thị trấn Núi Đối, các xã Thanh Sơn, Thuận Thiên, Hữu Bằng và vùng Thụy Hương cũ ghi theo xã mới; vùng Đại Hà, Ngũ Đoan của xã Kiến Hưng (2025) thuộc xã Kiến Hưng mới.
Bản đồ Xã Kiến Thụy
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Kiến Thụy được lập từ 5 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Thị trấn Núi Đối | Huyện Kiến Thụy | Thành phố Hải Phòng | toàn bộ |
| Xã Kiến Hưng | Huyện Kiến Thụy | Thành phố Hải Phòng | một phần |
| Xã Hữu Bằng | Huyện Kiến Thụy | Thành phố Hải Phòng | toàn bộ |
| Xã Thanh Sơn | Huyện Kiến Thụy | Thành phố Hải Phòng | toàn bộ |
| Xã Thuận Thiên | Huyện Kiến Thụy | Thành phố Hải Phòng | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Kiến Thụy gồm những đơn vị cũ nào?
Thị trấn Núi Đối, các xã Thanh Sơn, Thuận Thiên, Hữu Bằng và vùng Thụy Hương cũ (một phần xã Kiến Hưng) của huyện Kiến Thụy cũ.
Tên Kiến Thụy có nghĩa là gì?
Kiến Thụy (建瑞) nghĩa là dựng nên điềm lành: kiến 建 là dựng, thụy 瑞 là điềm lành. Đây là tên phủ Kiến Thụy do vua Minh Mạng lập, sau thành huyện Kiến Thụy.
Lễ hội Minh Thề ở đâu?
Tại đền – chùa Hòa Liễu, nay thuộc xã Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Xã Kiến Thụy rộng bao nhiêu, bao nhiêu dân?
20,18 km² và 38.020 người.
Cùng Huyện Kiến Thụy trước đây
- Xã Kiến Hải 44.862
- Xã Kiến Hưng 28.044
- Xã Kiến Minh 26.181
- Xã Nghi Dương 25.660
← Toàn bộ 114 xã, phường của Hải Phòng Tra tên xã cũ → mới