VietNam34.comViệt Nam 34

Đặc khu Lý Sơn

Đặc khu thuộc Tỉnh Quảng Ngãi · đơn vị hành chính cấp xã từ 1/7/2025 · trước đây thuộc Huyện Lý Sơn

Lý Sơn là đặc khu thuộc tỉnh Quảng Ngãi, đơn vị hành chính cấp xã được tổ chức từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở toàn bộ huyện đảo Lý Sơn theo Nghị quyết 1677/NQ-UBTVQH15. Đặc khu rộng 10,4 km², dân số 25.639 người, gồm đảo Lớn, đảo Bé và hòn Mù Cu ngoài khơi phía đông bắc tỉnh.

Tổng quan

Đặc khu Lý Sơn là một trong 13 đặc khu của cả nước sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 và là đơn vị hải đảo duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi. Đặc khu được lập trên cơ sở giữ nguyên toàn bộ diện tích và dân số của huyện Lý Sơn cũ; trụ sở đặt tại trung tâm hành chính của huyện cũ.

Theo số liệu sắp xếp, Lý Sơn rộng 10,4 km² và có 25.639 người, tức khoảng 2.465 người/km² — mật độ cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của tỉnh, vì một cộng đồng đông người sống trên một hòn đảo nhỏ, đất canh tác ít. Phần đất đặc khu gồm đảo Lớn (nơi tập trung dân cư và cơ quan hành chính), đảo Bé ở phía bắc và hòn Mù Cu ở phía đông.

Lý Sơn được biết đến qua ba điểm nhận diện: quê hương của đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn, với lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; địa hình núi lửa cổ với các miệng núi Thới Lới, Giếng Tiền; và nghề trồng tỏi trên cát, khiến đảo thường được gọi là “vương quốc tỏi”.

Đặc khu là gì

Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 (thông qua ngày 16/6/2025, hiệu lực từ 1/7/2025) chia đơn vị hành chính thành hai cấp: cấp tỉnh và cấp xã; cấp xã gồm xã, phường và đặc khu trực thuộc tỉnh. Đặc khu là đơn vị hành chính cấp xã được tổ chức ở một số hải đảo, ngang cấp với xã và phường, khác hẳn khái niệm “đặc khu kinh tế” từng được bàn trước đây. Đặc khu có từ 1.000 dân thường trú trở lên thì tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đặc khu; Lý Sơn thuộc trường hợp này.

Tên gọi và ý nghĩa

Đặc khu kế thừa nguyên tên huyện Lý Sơn, tức tên Hán của hòn đảo đã có từ thời Nguyễn. Song song với tên chữ, người dân ven biển Quảng Ngãi từ lâu gọi đảo bằng tên Nôm Cù Lao Ré, và tên này vẫn còn dùng phổ biến.

Chữ Hán và nghĩa

Trong Đại Nam nhất thống chí (bản Duy Tân), đảo được ghi là 理山 (Lý Sơn); sách chép đảo ở ngoài biển phía đông huyện Bình Sơn, “tục gọi Cù lao Ré”. Chữ Sơn 山 nghĩa là núi — cách gọi quen thuộc của người xưa cho các hòn đảo nhô cao giữa biển. Chữ Lý 理 vốn có nghĩa là vân, thớ, lẽ phải, sắp đặt; nhưng trong địa danh này nhiều khả năng chữ được chọn chủ yếu để ghi âm một tên gọi có sẵn trong dân gian, nên không nên suy diễn nghĩa “núi của lẽ phải”. Một số bài khảo cứu địa danh cho rằng chữ Lý trong tên Hán và chữ Ré trong tên Nôm có liên hệ về âm đọc — đây là một giả thuyết, chưa có kết luận chung.

Cù Lao Ré

Cù lao là từ người Việt dùng gọi đảo nhỏ, bãi nổi giữa sông hoặc ngoài biển (xem mục cù lao trên Wiki Ngôn Ngữ); âm “ré” không có chữ Hán Việt tương ứng, tức là yếu tố thuần Việt hoặc vay mượn từ ngôn ngữ bản địa. Về nguồn gốc chữ “Ré” có hai cách giải thích được nhắc nhiều:

  • Theo Địa chí Quảng Ngãi và cách hiểu dân gian, đảo xưa mọc nhiều cây ré, nên gọi là cù lao Ré.
  • Theo một giả thuyết khác, người Chăm gọi đảo là Rék (hay Raik) — tên một loại dây rừng dùng bện dây buồm; người Việt đến sau đọc thành Ré.

Hai cách giải thích không loại trừ nhau và đều chưa được kiểm chứng bằng văn bản cổ, nên được trình bày ở dạng giả thuyết.

Những tên khác trong thư tịch và bản đồ

Việt sử cương giám khảo lược ghi đảo Lý Sơn tục gọi là Ngoại Lao, người Trung Hoa gọi là Ngoại La; thư tịch Minh, Thanh cũng dùng tên Ngoại La hoặc Ngoại La Sơn. Trên hải đồ phương Tây từ thế kỷ XVI, đảo xuất hiện dưới các tên Pulo Catão, Pulo Canton; bản đồ An Nam đại quốc họa đồ (1838) ghi “Cù lao Ré seu Pulo Canton”, tức “Cù lao Ré hay Pulo Canton”.

Hai làng cổ trên đảo cũng mang tên chữ: thời Nguyễn đảo chia thành hai phường An Vĩnh và An Hải, trong đó chữ 安 (an) nghĩa là yên ổn, 永 (vĩnh) là lâu dài. Đồng Khánh địa dư chí chép là “Lý Sơn An Vĩnh phường, Lý Sơn An Hải phường”, cho thấy tên Lý Sơn khi ấy đã dùng như tên chung của đảo.

Tên Lý Sơn hiện là tên duy nhất trong 3.321 đơn vị cấp xã trên cả nước; ghi địa chỉ chỉ cần “Đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi”.

Địa lý

Lý Sơn nằm ngoài khơi phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách cảng Sa Kỳ trên đất liền khoảng 15 hải lý. Đặc khu không giáp đơn vị hành chính nào trên bộ; bốn phía là biển.

Đảo Lớn chiếm phần lớn diện tích và gần như toàn bộ dân cư. Đảo Bé (còn gọi là đảo An Bình, theo tên xã cũ) nằm ở phía bắc, có dân cư thưa và từ năm 2016 mới được cấp điện lưới. Hòn Mù Cu là hòn đá nhỏ ở phía đông, không có dân ở.

Về địa chất, đảo là phần còn lại của một vùng núi lửa có năm miệng, hình thành cách nay khoảng 25–30 triệu năm. Các núi Thới Lới, Giếng Tiền và một số đồi khác là dấu vết của các miệng núi lửa; Thới Lới ở phía bắc đảo Lớn là ngọn lớn nhất, miệng cũ nay là lòng chảo rộng. Đá bazan và tro núi lửa phong hóa tạo nên lớp đất màu nâu đỏ, kết hợp với cát biển là nền cho nghề trồng hành tỏi. Bờ đảo có nhiều vách đá, hang và vòm đá do sóng khoét vào lớp nham thạch, như vòm Tò Vò ở phía tây.

Các núi cũng là nơi giữ những mạch nước ngầm chính của đảo. Vì đảo nhỏ, không có sông suối lớn, nước ngọt phụ thuộc vào nước mưa và nước ngầm — một ràng buộc lâu dài đối với sản xuất và sinh hoạt.

Khí hậu thuộc kiểu nhiệt đới gió mùa của duyên hải Nam Trung Bộ: mùa mưa tập trung vào các tháng thu – đông, cũng là mùa có áp thấp và bão từ Biển Đông; các tháng còn lại khô và nắng. Gió mùa đông bắc làm biển động mạnh vào mùa đông, ảnh hưởng trực tiếp đến tàu bè qua lại giữa đảo và đất liền.

Lịch sử

Từ tiền sử đến thời chúa Nguyễn

Các cuộc khai quật trên đảo đã tìm thấy dấu tích văn hóa Sa Huỳnh có niên đại trước năm 200 trước Công nguyên, cho thấy con người đến Lý Sơn từ rất sớm. Sau đó vùng biển này nằm trong không gian của người Chăm, trước khi người Việt từ đất liền ra khai phá và lập làng.

Từ thế kỷ XVII, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong lập đội Hoàng Sa. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, đội có 70 suất, lấy người xã An Vĩnh — làng nay nằm trên đảo Lý Sơn — luân phiên nhau ra quần đảo Hoàng Sa thu lượm hải vật, hàng hóa từ tàu đắm. Cũng theo sách này, chúa Nguyễn còn lập đội Bắc Hải, lấy người ở Bình Thuận, đi các vùng Côn Lôn, Phú Quý và Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản. Tên “Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải” mà Lý Sơn dùng cho nhà trưng bày ngày nay bắt nguồn từ quan hệ ấy.

Dưới triều Nguyễn, đảo thuộc huyện Bình Sơn, phủ Tư Nghĩa, chia làm hai phường An Vĩnh và An Hải. Việc đi Hoàng Sa nhiều chuyến không trở về để lại tục lập mộ gió (mộ không có thi hài) và lễ Khao lề thế lính — những dấu vết văn hóa đến nay vẫn còn trên đảo.

Từ huyện đảo đến đặc khu

Trong phần lớn thế kỷ XX, Lý Sơn là các xã thuộc huyện Bình Sơn. Năm 1989, khi tỉnh Quảng Ngãi được tái lập, hai xã đảo là Lý Vĩnh và Lý Hải thuộc huyện Bình Sơn của tỉnh. Huyện Lý Sơn được thành lập theo Quyết định 337-HĐBT và chính thức hoạt động từ ngày 1/1/1993. Năm 2003, hai xã Lý Vĩnh và Lý Hải được đổi lại tên lịch sử là An Vĩnh và An Hải; cùng với xã An Bình trên đảo Bé, huyện có ba xã.

Năm 2020, Lý Sơn thí điểm mô hình chính quyền một cấp: ba xã An Vĩnh, An Hải, An Bình được giải thể, huyện quản lý trực tiếp các thôn. Vì thế đến năm 2025 Lý Sơn là một trong số ít huyện không có đơn vị hành chính cấp xã.

Ngày 16/6/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1677/NQ-UBTVQH15 sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ngãi; huyện Lý Sơn được tổ chức thành đặc khu Lý Sơn, hoạt động từ ngày 1/7/2025. Sau sắp xếp, đặc khu có 6 thôn.

Dân cư – xã hội

Đặc khu có 25.639 người trên diện tích 10,4 km², mật độ khoảng 2.465 người/km². Dân cư sống dày ở các thôn ven biển phía nam và tây nam đảo Lớn, quanh trung tâm hành chính và khu bến cảng; đảo Bé chỉ có một cộng đồng nhỏ. Cư dân chủ yếu là người Kinh, phần lớn là hậu duệ các dòng họ khai phá từ thời chúa Nguyễn; nhiều họ tộc vẫn giữ nhà thờ họ, gia phả và tục cúng tiền hiền.

Đời sống tinh thần gắn với biển: tục thờ cá Ông (Nam Hải đại tướng quân) chung của cư dân duyên hải miền Trung và tục thờ cúng những người đi biển không trở về. Đình làng, lăng, miếu và các ngôi chùa cùng tồn tại trong một không gian nhỏ.

Do đất chật, nhiều gia đình có người đi làm ăn ở đất liền; thanh niên đi học cao hơn thường phải vào Quảng Ngãi hoặc các thành phố lớn. Đặc khu có hệ thống trường từ mầm non đến trung học phổ thông và cơ sở y tế tuyến huyện cũ để đáp ứng nhu cầu tại chỗ; các ca bệnh nặng phải chuyển vào đất liền bằng đường biển, phụ thuộc thời tiết. Từ tháng 9/2014, đảo Lớn có điện lưới quốc gia qua cáp ngầm vượt biển, thay thế nguồn điện máy phát trước đó.

Kinh tế

Kinh tế Lý Sơn dựa vào ba trụ: khai thác hải sản, trồng hành tỏi và, từ cuối thập niên 2000, du lịch.

Nghề biển

Nghề cá là nghề lâu đời nhất. Ngư dân Lý Sơn nổi tiếng đi biển xa, nhiều tàu khai thác ở các ngư trường quanh Hoàng Sa và Trường Sa — nối tiếp truyền thống của đội Hoàng Sa xưa. Bên cạnh đánh bắt xa bờ là các nghề ven bờ như lặn bắt hải sản, đánh lưới quanh đảo và chế biến khô, mắm phục vụ người dân và khách.

Tỏi và hành

Tỏi Lý Sơn là sản phẩm làm nên tên tuổi của đảo. Tỏi trồng trên ruộng cát, nổi tiếng nhất ở vùng An Vĩnh cũ; củ nhỏ, tép đều, màu trắng, chắc và mùi thơm riêng. Hành tím cũng là cây trồng quen thuộc trên cùng loại đất. Vì sản lượng có hạn mà nhu cầu lớn, tình trạng tỏi từ nơi khác đưa ra đảo bán dưới danh nghĩa tỏi Lý Sơn từng được báo chí phản ánh nhiều lần.

Nghề trồng tỏi trên cát có mặt trái: việc khai thác cát ven biển để phủ ruộng trong thời gian dài đã gây xâm thực bờ biển, thiệt hại đáng kể cho đảo; đây là một vấn đề môi trường được chính quyền địa phương đặt ra để quản lý.

Du lịch, dịch vụ

Tuyến du lịch “biển đảo Lý Sơn” được khai trương ngày 28/4/2007. Từ đó, nhà nghỉ, homestay, dịch vụ tàu tham quan đảo Bé, ăn uống hải sản và bán đặc sản phát triển mạnh, đặc biệt vào mùa hè khi biển êm. Du lịch có tính thời vụ rõ rệt: mùa gió bão gần như vắng khách.

Văn hóa

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa

Đây là nghi lễ tiêu biểu nhất của Lý Sơn. Khao lề là lệ khao định kỳ hằng năm, thế lính là nghi lễ cúng thế mạng cho người lính đội Hoàng Sa trước khi ra biển. Lễ có nguồn gốc từ thời đội Hoàng Sa đầu thế kỷ XVII, được các tộc họ trên đảo duy trì đến nay, thường tổ chức vào khoảng tháng Hai – tháng Ba âm lịch, với phần lễ chính tại đình làng An Vĩnh. Nghi thức gồm lễ tế, rước linh vị binh phu Hoàng Sa, đắp hình nhân thế mạng và thả những chiếc thuyền mô hình ra biển, kèm hội đua thuyền tứ linh. Tháng 4/2013, lễ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Di tích

Lý Sơn có nhiều di tích cấp quốc gia trên một diện tích rất nhỏ:

  • Đình làng An Vĩnh và đình làng An Hải — đình của hai làng cổ, nơi diễn ra các nghi lễ của cộng đồng.
  • Âm linh tự — nơi thờ những người lính Hoàng Sa đã mất; trong khu vực có mộ của đội trưởng Phạm Quang Ảnh.
  • Chùa Hang — ngôi chùa đặt trong hang đá tự nhiên dưới chân núi Thới Lới, thờ Phật cùng các vị tiền hiền khai phá đảo.
  • Núi Giếng Tiền và núi Thới Lới — danh thắng gắn với địa hình núi lửa.
  • Cổng Tò Vò — vòm đá tự nhiên ven biển, được xếp hạng di tích quốc gia ngày 9/9/2025.

Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải lưu giữ hiện vật, tư liệu về hoạt động của đội Hoàng Sa và các thế hệ ngư dân trên đảo.

Ẩm thực

Ẩm thực đảo xoay quanh hải sản và hành tỏi: gỏi tỏi (làm từ lá, thân tỏi non), các món rong biển, ốc và cá đánh bắt quanh đảo. Tỏi cô đơn (tỏi một tép) là sản vật được nhiều người tìm mua.

Du lịch

Du khách đến Lý Sơn thường kết hợp ba nhóm trải nghiệm: địa chất – cảnh quan, lịch sử Hoàng Sa và đời sống làng biển.

  • Cảnh quan núi lửa: leo núi Thới Lới nhìn xuống miệng núi lửa cũ và cánh đồng tỏi; vòm Tò Vò và các bờ đá bazan ở phía tây, nơi thường được chọn để xem hoàng hôn; hang Câu và các vách đá ven biển.
  • Đảo Bé: đi bằng tàu, ca nô nhỏ từ đảo Lớn; nổi tiếng với bãi cát, nước trong và các rạn san hô gần bờ.
  • Lịch sử – tâm linh: Âm linh tự, đình An Vĩnh, đình An Hải, chùa Hang, Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải; nếu đi đúng dịp tháng Hai – tháng Ba âm lịch có thể dự lễ Khao lề thế lính.

Mùa thuận lợi nhất là từ khoảng tháng 3 đến tháng 8 khi biển êm; mùa mưa bão và gió mùa đông bắc thường gây gián đoạn tàu. Đảo nhỏ, đất canh tác và nguồn nước hạn chế, nên khách được khuyến khích không mang rác nhựa ra đảo và không lấy san hô, đá núi lửa làm kỷ niệm.

Giao thông

Kết nối giữa Lý Sơn và đất liền hoàn toàn bằng đường biển; đặc khu không có sân bay.

  • Tuyến Sa Kỳ – Lý Sơn là tuyến chính: tàu khách cao tốc chạy từ cảng Sa Kỳ (ở cửa biển Sa Kỳ, phía đông bắc trung tâm tỉnh) ra cảng trên đảo Lớn, quãng đường khoảng 15 hải lý. Tuyến do nhiều doanh nghiệp khai thác, số tàu thay đổi theo mùa; ngoài tàu khách còn có tàu hàng chở nhu yếu phẩm, vật liệu và nông sản.
  • Khi có biển động, áp thấp hoặc gió mùa mạnh, cơ quan cảng vụ cho tạm dừng tàu; những đợt này có thể kéo dài nhiều ngày, nên lịch đi – về đảo luôn phải tính dự phòng.
  • Giữa đảo Lớn và đảo Bé có tàu, ca nô nhỏ đưa đón.

Trên đảo Lớn, một trục đường chính chạy dọc đảo, nối các thôn, các điểm di tích; phương tiện phổ biến là xe máy. Lịch tàu và giá vé do doanh nghiệp vận tải công bố, thay đổi theo mùa.

Hành chính

Đặc khu Lý Sơn là đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đặc khu; dưới đặc khu là 6 thôn. Địa chỉ ghi theo dạng: thôn …, đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thủ tục hành chính của người dân được giải quyết tại trung tâm phục vụ hành chính công của đặc khu, đặt tại khu trung tâm hành chính của huyện cũ.

Bản đồ Đặc khu Lý Sơn

Ghim đặt tại vị trí trụ sở đặc khu. Mở trên Google Maps ↗

Xã, phường cũ hợp thành

Đặc khu Lý Sơn được lập từ 1 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1677/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Đơn vị cũHuyện, quận, thị xã cũTỉnh cũPhạm vi
Huyện Lý SơnHuyện Lý SơnTỉnh Quảng Ngãi toàn bộ

Hỏi đáp nhanh

Đặc khu Lý Sơn được lập từ đơn vị nào?

Từ toàn bộ huyện Lý Sơn cũ của tỉnh Quảng Ngãi, theo Nghị quyết 1677/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025, hoạt động từ 1/7/2025. Từ năm 2020 huyện này đã không còn cấp xã.

Tên Lý Sơn có nghĩa là gì?

Lý Sơn (理山) là tên Hán ghi trong Đại Nam nhất thống chí; Sơn là núi, còn chữ Lý nhiều khả năng dùng để ghi âm tên dân gian. Tên Nôm của đảo là Cù Lao Ré — theo dân gian vì đảo có nhiều cây ré, theo một giả thuyết khác từ tiếng Chăm Rék.

Đặc khu khác xã, phường thế nào?

Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 72/2025/QH15, đặc khu là đơn vị hành chính cấp xã ở một số hải đảo, ngang cấp xã và phường, trực thuộc tỉnh.

Diện tích và dân số Lý Sơn là bao nhiêu?

10,4 km² và 25.639 người, mật độ khoảng 2.465 người/km².

Đi Lý Sơn bằng cách nào?

Bằng tàu khách cao tốc từ cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi), quãng đường khoảng 15 hải lý. Tàu tạm dừng khi biển động; đảo không có sân bay.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa là gì?

Nghi lễ cúng thế mạng và tưởng nhớ binh phu đội Hoàng Sa, tổ chức hằng năm tại đình An Vĩnh; là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2013.

← Toàn bộ 96 xã, phường của Quảng Ngãi Tra tên xã cũ → mới