Nà Phặc là xã ở phía bắc tỉnh Thái Nguyên, nằm ở nút giao quốc lộ 3 và quốc lộ 279, được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1683/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở thị trấn Nà Phặc và xã Trung Hòa của huyện Ngân Sơn cũ (tỉnh Bắc Kạn). Diện tích 101,18 km², dân số 9.231 người.
Tổng quan
Ai đi quốc lộ 3 lên Cao Bằng hay rẽ quốc lộ 279 sang Ba Bể, Lạng Sơn đều qua Nà Phặc: thị trấn cũ nằm đúng chỗ hai quốc lộ gặp nhau. Từ năm 2025, thị trấn này cùng xã Trung Hòa thành xã Nà Phặc của tỉnh Thái Nguyên, trụ sở đặt tại trụ sở cũ của thị trấn Nà Phặc.
Xã rộng 101,18 km², dân số 9.231 người, mật độ khoảng 91 người/km² — đông nhất trong năm xã thuộc vùng Ngân Sơn cũ. Dù không phải huyện lỵ (huyện lỵ Ngân Sơn đặt ở Vân Tùng), Nà Phặc là một trong hai thị trấn của huyện cũ và năm 2026 được tỉnh xếp vào nhóm 19 đô thị loại III. Trên quốc lộ 3 qua địa bàn có đèo Gió.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên kế thừa từ thị trấn. Xã mới giữ tên thị trấn Nà Phặc — đơn vị đông dân hơn và là nơi đặt trụ sở; tên Trung Hòa được giữ làm tên thôn (thôn Trung Hòa).
Gốc tiếng Tày. Nà Phặc là tên địa phương của người Tày, không phải tên Hán Việt: từ điển chữ Hán – Nôm trên wiki.ngonngu.com không ghi âm Hán Việt nào đọc là nà hay phặc. Yếu tố "Nà" mở đầu rất nhiều tên thôn bản ở vùng này (Nà Kèng, Nà Duồng, Nà Khoang, Nà Làm…); nghĩa cụ thể của tên Nà Phặc chưa tìm được tài liệu giải thích, nên không suy đoán.
Lịch sử tên. Nà Phặc thành tên đơn vị hành chính từ ngày 8/10/1980, khi thị trấn Nà Phặc được lập trên toàn bộ xã Thiều Quan cùng tám bản của xã Trung Hòa (Cốc Pái, Nà Tỏ, Nà Kèng, Nà Làm, Nà Duồng, Nà Ma, Khuổi Tinh, Thâm Sang). Trước đó, theo Quyết định 150-NV ngày 12/5/1964, xã Cao Thành đổi tên thành Thiều Quan và xã Đồng Minh đổi thành Trung Hòa. Tên Trung Hòa thường hiểu là 中和 — "ở giữa, hòa hợp" — nhưng chưa có tài liệu ghi chữ Hán của tên xã.
Trùng tên: cả nước chỉ có một xã Nà Phặc.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, xã giáp xã Ngân Sơn và Thượng Quan ở phía đông; Phúc Lộc và Thượng Minh ở phía tây; Hiệp Lực và Thượng Minh ở phía nam; Ngân Sơn và Phúc Lộc ở phía bắc.
Khu trung tâm nằm trong thung lũng thuộc lưu vực thượng nguồn sông Năng — dòng chảy sang phía tây về hồ Ba Bể. Xung quanh là đồi núi thuộc dãy Ngân Sơn; trên quốc lộ 3 qua địa bàn có đèo Gió. Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh, nhiều sương muối; vùng Ngân Sơn cũ từng ghi nhận nhiệt độ thấp tới −2°C.
Lịch sử
Đất Nà Phặc – Trung Hòa thời Nguyễn thuộc phủ Thông Hóa (tỉnh Thái Nguyên), từ năm 1900 thuộc châu Cảm Hóa (sau là Ngân Sơn) của tỉnh Bắc Kạn. Theo báo Nhân Dân, ngày 12/5/1945, sau khi dừng chân ở Hoàng Phài (Cốc Đán), đoàn của Hồ Chí Minh vượt đường mòn qua xã Trung Hòa để sang bản Khuổi Mản (Hà Hiệu, Ba Bể).
- 1964: Cao Thành đổi tên Thiều Quan, Đồng Minh đổi tên Trung Hòa.
- 1965–1978: huyện Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Thái; từ 29/12/1978 thuộc tỉnh Cao Bằng.
- 8/10/1980: lập thị trấn Nà Phặc trên cơ sở xã Thiều Quan và tám bản của Trung Hòa.
- 1/1/1997: huyện về lại tỉnh Bắc Kạn.
- 16/6/2025: Nghị quyết 1683/NQ-UBTVQH15 nhập thị trấn Nà Phặc và xã Trung Hòa thành xã Nà Phặc, hoạt động từ 1/7/2025.
Năm 2019, thị trấn Nà Phặc có 6.459 người. Từ tháng 6/2026, xã sắp xếp 26 thôn thành 11 thôn (2.135 hộ, 9.167 nhân khẩu): Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Bản Mạch, Trung Hòa, Nà Khoang, Bản Hòa, Bản Cầy, Nà Kèng, Nà Duồng, Bản Hùa.
Dân cư – xã hội
Khoảng hai phần ba dân số sống ở khu thị trấn cũ (6.459 người năm 2019). Vùng Ngân Sơn cũ có người Kinh chỉ khoảng 5% dân số; cư dân chủ yếu là người Tày, Nùng, Dao. Theo Wikipedia, trước năm 1979 người Hoa sinh sống đông đúc ở xã Bằng Khẩu (vùng Ngân Sơn cũ).
Theo phân loại năm 2026, trừ Thôn 2, các thôn còn lại thuộc diện đặc biệt khó khăn. Khu thị trấn cũ có chợ, trường học, trạm y tế.
Kinh tế
Vị trí ngã ba quốc lộ khiến Nà Phặc là điểm buôn bán, dịch vụ vận tải, ăn uống, nghỉ chân của tuyến Bắc Kạn – Cao Bằng và Ba Bể – Lạng Sơn. Nông nghiệp gồm lúa nước trong thung lũng, ngô, chăn nuôi; lúa Khẩu Nua Lếch của vùng Ngân Sơn được Wikipedia nêu là giống lúa đặc sản của tỉnh Bắc Kạn cũ. Đất đồi trồng rừng sản xuất; khu vực Bắc Kạn cũ từng có độ che phủ rừng 73,4% (2020), cao nhất cả nước.
Văn hóa
Người Tày, Nùng ở Nà Phặc giữ hát then – đàn tính, hát lượn, nhà sàn và các lễ cúng mùa màng. Con đường qua Trung Hòa mà đoàn của Hồ Chí Minh đi ngày 12/5/1945 nối hai di tích lưu niệm ở hai đầu: Hoàng Phài (xã Ngân Sơn) và Khuổi Mản (xã Phúc Lộc). Nhà thơ Nông Quốc Chấn, người Cốc Đán bên cạnh, có tập thơ mang tên Đèo Gió (1968).
Giao thông
Quốc lộ 3 qua xã theo hướng bắc – nam: lên Vân Tùng, đèo Cao Bắc, Cao Bằng; xuống Phủ Thông, phường Bắc Kạn, Thái Nguyên. Trên đoạn này có đèo Gió. Quốc lộ 279 giao quốc lộ 3 tại Nà Phặc: hướng tây đi Chợ Rã, Ba Bể và Na Hang (Tuyên Quang), hướng đông qua Hiệp Lực sang Lạng Sơn.
Hành chính
Địa chỉ từ 1/7/2025: thôn …, xã Nà Phặc, tỉnh Thái Nguyên. Người dân thị trấn Nà Phặc và xã Trung Hòa cũ làm thủ tục tại UBND xã Nà Phặc, đặt ở trụ sở cũ của thị trấn.
Bản đồ Xã Nà Phặc
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Nà Phặc được lập từ 2 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1683/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Trung Hòa | Huyện Ngân Sơn | Tỉnh Bắc Kạn | toàn bộ |
| Thị trấn Nà Phặc | Huyện Ngân Sơn | Tỉnh Bắc Kạn | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Nà Phặc gồm những đơn vị cũ nào?
Gồm toàn bộ thị trấn Nà Phặc và xã Trung Hòa của huyện Ngân Sơn (tỉnh Bắc Kạn cũ), theo Nghị quyết 1683/NQ-UBTVQH15.
Tên Nà Phặc có nghĩa là gì?
Là tên gốc tiếng Tày, không phải Hán Việt; nghĩa cụ thể chưa có tài liệu giải thích. Tên này thành tên hành chính từ năm 1980, khi lập thị trấn Nà Phặc.
Nà Phặc có phải huyện lỵ Ngân Sơn không?
Không. Huyện lỵ Ngân Sơn đặt ở Vân Tùng (nay thuộc xã Ngân Sơn); Nà Phặc là thị trấn thứ hai của huyện, ở nút giao quốc lộ 3 và 279.
Quốc lộ nào đi qua xã Nà Phặc?
Quốc lộ 3 (Thái Nguyên – Bắc Kạn – Cao Bằng) và quốc lộ 279 (Tuyên Quang – Ba Bể – Lạng Sơn), giao nhau tại khu trung tâm.
Diện tích và dân số xã Nà Phặc là bao nhiêu?
Diện tích 101,18 km², dân số 9.231 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Cùng Huyện Ngân Sơn trước đây
- Xã Bằng Vân 5.643
- Xã Hiệp Lực 7.317
- Xã Ngân Sơn 8.260
- Xã Thượng Quan 3.753
← Toàn bộ 92 xã, phường của Thái Nguyên Tra tên xã cũ → mới