Trà Vinh là phường thuộc tỉnh Vĩnh Long, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1687/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ Phường 1, Phường 3 và Phường 9 của thành phố Trà Vinh cũ. Phường rộng 15,73 km², dân số 45.397 người.
Tổng quan
Phường Trà Vinh là lõi đô thị của thành phố Trà Vinh cũ – tỉnh lỵ của tỉnh Trà Vinh từ năm 1900 đến hết tháng 6/2025 – nay là một phường của tỉnh Vĩnh Long. Đây là phường duy nhất mang lại tên của cả một tỉnh cũ sau đợt sắp xếp năm 2025, và vẫn là nơi tập trung các phố buôn bán, chợ và nhiều cơ quan cũ của khu vực phía đông nam tỉnh mới.
Phường rộng 15,73 km², dân số 45.397 người, mật độ khoảng 2.886 người/km² – cao nhất trong bốn phường kế thừa thành phố Trà Vinh. Theo danh sách đơn vị hành chính tỉnh Vĩnh Long trên Wikipedia (cập nhật theo tài liệu bầu cử năm 2026), phường chia thành 24 khóm, đánh số từ 1 đến 24; bài riêng về phường trên Wikipedia ghi 15 khóm – số liệu ở thời điểm sớm hơn.
Nét nhận diện của khu trung tâm Trà Vinh là phố cũ dưới tán cây cổ thụ xen với chùa Khmer, miếu Hoa và nhà thờ: chỉ trong một bán kính nhỏ có thể gặp cả ba cộng đồng Kinh, Khmer, Hoa – điều tạo nên tính cách riêng của đô thị này so với các tỉnh lỵ khác ở đồng bằng sông Cửu Long.
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: phường không lấy tên một phường cũ nào – ba đơn vị hợp thành đều mang số (Phường 1, 3, 9). Tên mới kế thừa tên thành phố Trà Vinh và tỉnh Trà Vinh, hai đơn vị chấm dứt hoạt động cùng ngày 1/7/2025. Đặt tên phường lõi theo tên tỉnh cũ là cách giữ một địa danh đã dùng hơn hai thế kỷ ở đúng nơi nó gắn bó lâu nhất.
Gốc địa danh: theo Wikipedia tiếng Việt (mục Nguồn gốc tên gọi của bài tỉnh Trà Vinh), vùng đất này trước kia gọi là xứ Trà Vang; tên Trà Vang có gốc từ ngôn ngữ Nam Á cổ, dân gian thường đọc là Trah Păng, phản ánh cảnh quan một vùng đất mới bồi ven sông, ven biển, nhiều chỗ trũng và đầm lầy. Tên "Trà Vang" đã có trước khi chúa Nguyễn lập châu Định Viễn, dinh Long Hồ năm 1732. Từ Trà Vang chuyển dần thành Trà Vinh trong cách gọi và ghi chép của người Việt.
Về chữ Hán: vì là tên phiên âm, hai âm tiết không mang nghĩa Hán Việt gốc. Từ điển Wiki Ngôn Ngữ cho thấy âm trà thường ứng với chữ 茶 (cây chè, trà), âm vinh với chữ 榮 (vẻ vang, vinh hiển); đọc ghép thành "trà vẻ vang" là chiết tự theo mặt chữ, không phải ý nghĩa của địa danh. Từ điển cũng có mục "Trà Vinh", định nghĩa là tỉnh ven biển vùng Tây Nam Bộ.
Lịch sử tên: thời Minh Mạng, năm 1825 lập phủ Lạc Hóa gồm hai huyện Trà Vinh và Tuân Mỹ; từ 1832 huyện Trà Vinh thuộc tỉnh Vĩnh Long. Thời Pháp, hạt tham biện Trà Vinh đổi thành tỉnh Trà Vinh từ ngày 1/1/1900. Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh thành Vĩnh Bình và tỉnh lỵ thành Phú Vinh (theo tên xã Phú Vinh, vốn là xã Long Đức đổi tên), trong khi phía cách mạng vẫn gọi là Trà Vinh. Sau 1975 thị xã Trà Vinh thuộc tỉnh Cửu Long; từ 1992 trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh, lên thành phố năm 2010.
Trùng tên: trong danh sách đơn vị cấp xã sau sắp xếp, không có đơn vị nào khác mang tên Trà Vinh. Cần lưu ý khi đọc tài liệu cũ: "Trà Vinh" trước 1/7/2025 thường chỉ tỉnh hoặc thành phố, còn nay là một phường của tỉnh Vĩnh Long.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, phường Trà Vinh giáp phường Long Đức và phường Hòa Thuận ở phía bắc, phường Nguyệt Hóa ở phía tây, xã Châu Thành và xã Song Lộc ở phía nam, xã Hưng Mỹ ở phía đông.
Vùng thành phố Trà Vinh cũ nằm ở phía nam sông Tiền, gần hạ lưu sông Cổ Chiên – nhánh sông Tiền chảy ra cửa Cung Hầu. Đất đai chủ yếu thuộc ba nhóm: đất cát giồng, đất phù sa và đất phèn tiềm tàng. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất lấy từ sông rạch và nước ngầm, nhưng theo Wikipedia trữ lượng không đáp ứng đủ nhu cầu – một khó khăn chung của vùng ven biển nhiễm mặn.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo của đồng bằng sông Cửu Long, nóng quanh năm, có mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Đô thị Trà Vinh nổi tiếng với mật độ cây cổ thụ dày: theo Wikipedia, thành phố cũ có khoảng 15.000 cây xanh, gần 1.000 cây trên trăm tuổi trồng từ thời Pháp, nên được gọi là "thành phố trong rừng xanh" hay "thành phố cây cổ thụ". Phần lớn hàng cây ấy nằm trên các con đường thuộc khu trung tâm nay là phường Trà Vinh.
Lịch sử
Tỉnh lỵ từ năm 1900
Khi tỉnh Trà Vinh thành lập năm 1900, tỉnh lỵ đặt tại làng Minh Đức (sau đổi là Long Đức) thuộc quận Châu Thành. Nhờ nằm gần cửa sông Cổ Chiên, nơi này sớm thành trung tâm dịch vụ, rồi trung tâm hành chính, quân sự của tỉnh. Tên một số đường phố trước 1975 đã đổi: đường Gia Long nay là Phạm Thái Bường, đường Phan Thanh Giản nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, đường Lê Văn Duyệt nay là 19 tháng 5, đường Calmette nay là Lý Tự Trọng, đường Nguyễn Tri Phương nay là Trần Phú.
Từ thị xã đến thành phố
Năm 1956 tỉnh lỵ đổi tên thành Phú Vinh. Sau 1975 thị xã Trà Vinh thuộc tỉnh Cửu Long, gồm 7 phường đánh số 1 đến 7. Ngày 26/12/1991 tỉnh Cửu Long chia lại thành Vĩnh Long và Trà Vinh; thị xã Trà Vinh trở lại làm tỉnh lỵ.
Nghị định 70/2002/NĐ-CP mở rộng thị xã, lập Phường 9 trên cơ sở 714,8 ha của xã Đa Lộc và 276,46 ha của xã Lương Hòa (huyện Châu Thành). Thị xã lên đô thị loại III năm 2007, thành thành phố Trà Vinh theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 4/3/2010, đô thị loại II năm 2016. Nghị quyết 1277/NQ-UBTVQH15 (hiệu lực 1/1/2025) nhập Phường 2 và Phường 6 vào Phường 3.
Sắp xếp năm 2025
Theo Nghị quyết 1687/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025, toàn bộ diện tích và dân số của Phường 1, Phường 3 và Phường 9 (thành phố Trà Vinh) hợp thành phường Trà Vinh. Vì Phường 3 đã gồm Phường 2 và Phường 6 từ đầu năm 2025, phường mới thực chất bao trùm năm phường đánh số cũ cùng phần đất Đa Lộc, Lương Hòa chuyển vào năm 2002. Cùng ngày, tỉnh Trà Vinh hợp nhất với Bến Tre và Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Long mới theo Nghị quyết 202/2025/QH15.
Dân cư – xã hội
Với 45.397 người trên 15,73 km², phường Trà Vinh là khu dân cư dày nhất của vùng Trà Vinh cũ. Dân số thành phố Trà Vinh cũ, theo Wikipedia, có khoảng 20% là người Khmer và hơn 6% là người Hoa, còn lại phần lớn là người Kinh; khu trung tâm là nơi người Hoa tập trung buôn bán lâu đời quanh chợ.
Đời sống tôn giáo đa dạng: chùa Phật giáo Nam tông Khmer, chùa và miếu của người Hoa, chùa Bắc tông của người Việt, nhà thờ Công giáo cùng tồn tại. Các lễ lớn của người Khmer – Chôl Chnăm Thmây (năm mới), Sene Dolta (cúng ông bà), Ok Om Bok (cúng trăng) – được tổ chức ở các chùa trong phường và trên toàn vùng.
Là lõi tỉnh lỵ cũ, phường có mạng lưới trường học các cấp, cơ sở y tế và nhiều công trình công cộng thừa hưởng từ thành phố. Thủ tục hành chính của người dân thực hiện tại UBND và trung tâm phục vụ hành chính công của phường; địa chỉ mới ghi "Phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long".
Kinh tế
Kinh tế phường chủ yếu là thương mại – dịch vụ: chợ Trà Vinh và các dãy phố buôn bán, khách sạn, nhà hàng, ngân hàng, dịch vụ vận tải. Đây là khu chợ đầu mối truyền thống của vùng Trà Vinh cũ, nơi hàng nông sản, thủy sản từ các huyện ven biển đổ về.
Vùng thành phố cũ nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 202 km, cách Cần Thơ khoảng 100 km và cách biển chừng 40 km; giao thông thủy theo sông Cổ Chiên. Vị trí này giúp khu trung tâm giữ vai trò điểm trung chuyển hàng hóa cho các huyện phía đông nam tỉnh. Phần Phường 9 cũ, phát triển từ đất Đa Lộc và Lương Hòa, có thêm các khu dân cư mới và cơ sở sản xuất, dịch vụ ven đô.
Sau khi tỉnh lỵ chuyển về phường Long Châu (vùng Vĩnh Long cũ), một phần cơ quan cấp tỉnh tại đây được sắp xếp lại; vai trò dịch vụ thương mại của phường đối với cư dân vùng Trà Vinh cũ vẫn giữ nguyên.
Văn hóa – di tích
- Chùa Ông Mẹt – tên chính thức tiếng Khmer là Bodhisálaràja, còn gọi chùa Kom Pong; tên quen "Ông Mẹt" là cách người Việt đọc trại tên gọi Khmer Lokta Meas. Theo Wikipedia, chùa thuộc phường Trà Vinh, tương truyền dựng lần đầu khoảng năm 642, dời về chỗ hiện nay khoảng năm 711. Chính điện trùng tu đầu thế kỷ XX; thư viện kiểu nhà sàn xây năm 1916, có bức bình phong gỗ chạm khắc. Chùa rộng khoảng 12.900 m², chỉ thờ Phật Thích Ca theo truyền thống Nam tông.
- Chợ Trà Vinh – chợ trung tâm của đô thị cũ, gắn với khu phố buôn bán của người Hoa.
- Hàng cây cổ thụ trên các đường phố trung tâm, nhiều cây trồng từ thời Pháp, là đặc điểm cảnh quan thường được nhắc khi nói về Trà Vinh.
Ẩm thực vùng Trà Vinh cũ có bún nước lèo (gốc Khmer), bánh canh Bến Có, bánh tét Trà Cuôn, cốm dẹp trộn dừa, bánh ống lá dứa – đều có mặt ở các hàng quán khu trung tâm. Các danh thắng khác của vùng nằm ngay phường lân cận: Ao Bà Om và chùa Âng ở phường Nguyệt Hóa, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở phường Long Đức.
Giao thông
Quốc lộ 53 nối khu trung tâm với vùng Vĩnh Long cũ ở phía tây bắc và các huyện ven biển ở phía nam; Quốc lộ 54 và 60 cũng hội về vùng Trà Vinh cũ. Mạng đường phố nội thị dày, nhiều trục mang tên đặt lại sau 1975. Đường thủy theo sông Cổ Chiên kết nối với Bến Tre ở bờ bắc.
Bản đồ Phường Trà Vinh
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Trà Vinh được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1687/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Hỏi đáp nhanh
Phường Trà Vinh gồm những phường cũ nào?
Toàn bộ Phường 1, Phường 3 và Phường 9 của thành phố Trà Vinh cũ, theo Nghị quyết 1687/NQ-UBTVQH15. Phường 3 trước đó (từ 1/1/2025) đã gồm cả Phường 2 và Phường 6.
Tên Trà Vinh có nghĩa là gì?
Theo Wikipedia tiếng Việt, Trà Vinh bắt nguồn từ địa danh cổ Trà Vang, gốc Nam Á cổ, dân gian đọc là Trah Păng, gợi vùng đất mới bồi nhiều đầm trũng. Đây là tên phiên âm nên không giải nghĩa theo chữ Hán 茶 榮.
Diện tích, dân số phường Trà Vinh là bao nhiêu?
15,73 km² và 45.397 người, mật độ khoảng 2.886 người/km².
Chùa Ông Mẹt thuộc phường nào?
Chùa Ông Mẹt (Bodhisálaràja) nay thuộc phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long.
Ghi địa chỉ ở phường Trà Vinh thế nào?
Ghi theo dạng: số nhà, tên đường, khóm, Phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Không còn cấp thành phố Trà Vinh và tỉnh Trà Vinh.
Cùng Thành phố Trà Vinh trước đây
- Phường Hòa Thuận 25.384
- Phường Long Đức 33.662
- Phường Nguyệt Hóa 37.066
← Toàn bộ 124 xã, phường của Vĩnh Long Tra tên xã cũ → mới