VietNam34.comViệt Nam 34
Lịch sử chia tách và tên gọi tỉnh

Những tên tỉnh ghép đã biến mất: Hà Bắc, Nghĩa Bình, Minh Hải… được đặt ra sao

Hà Bắc, Bắc Thái, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Minh Hải, Sông Bé, Cửu Long: bốn kiểu đặt tên tỉnh ghép thời 1960–1990, ý nghĩa từng tên và vì sao năm 2025 không dùng lại.

Faded pastel facade of an old provincial post office in a southern Vietnam town, ceiling fans visible through open doors, motorbike parked outside, blank walls, warm late afternoon light

Trong khoảng ba mươi năm từ đầu thập niên 1960 đến 1997, bản đồ Việt Nam có hơn hai mươi tên tỉnh ghép như Hà Bắc, Bắc Thái, Hải Hưng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Minh Hải, Sông Bé, Cửu Long. Chúng được đặt theo bốn kiểu chính: ghép chữ từ tên các tỉnh hợp thành, nối hai tên bằng gạch nối, lấy tên sông núi, hoặc chọn một tên mới. Đến năm 2025, chỉ còn Quảng Ninh là tên ghép đang dùng làm tên tỉnh.

Bài này phân loại các tên ghép theo cách đặt, giải thích nguồn chữ của từng tên khi chắc chắn, và cho biết vì sao đợt sắp xếp năm 2025 không tạo thêm tên ghép nào. Các mốc năm ghép, tách được trình bày chi tiết ở những bài khác trong mục lịch sử tên gọi.

Kiểu một: ghép chữ từ tên các tỉnh hợp thành

Đây là kiểu phổ biến nhất, lấy một chữ đại diện của mỗi tỉnh rồi ghép lại:

Tên ghépLấy chữ từTồn tại khoảng
Bắc TháiBắc Kạn + Thái Nguyên1965–1996
Hải HưngHải Dương + Hưng Yên1968–1996
Vĩnh PhúVĩnh Phúc + Phú Thọ1968–1996
Nam HàNam Định + Hà Nam1965–1975, 1991–1996
Hà TuyênHà Giang + Tuyên Quang1976–1991
Cao LạngCao Bằng + Lạng Sơn1976–1978
Nghệ TĩnhNghệ An + Hà Tĩnh1976–1991
Nghĩa BìnhQuảng Ngãi + Bình Định1976–1989
Phú KhánhPhú Yên + Khánh Hòa1976–1989
Hà Nam NinhHà Nam + Nam Định + Ninh Bình1976–1991
Hà Sơn BìnhHà Tây + Hòa Bình (chữ Sơn gợi vùng Sơn Tây)1976–1991
Bình Trị ThiênQuảng Bình + Quảng Trị + Thừa Thiên1976–1989

Có một quy tắc ngầm dễ thấy: khi tên tỉnh có chữ "Quảng" ở đầu, chữ được lấy là chữ thứ hai, vì "Quảng" lặp lại ở quá nhiều tỉnh miền Trung. Nghĩa Bình lấy chữ "Nghĩa" từ Quảng Ngãi, đọc theo âm Hán Việt của chữ Ngãi; Bình Trị Thiên lấy "Bình" từ Quảng Bình, "Trị" từ Quảng Trị. Với ba tỉnh, tên ghép thường có ba chữ, theo thứ tự địa lý từ bắc xuống nam.

Kiểu hai: nối hai tên bằng gạch nối

Khi không muốn rút gọn tên, người ta giữ nguyên cả hai tên và nối bằng gạch: Gia Lai – Kon Tum, Quảng Nam – Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu. Kiểu này thường dùng khi một trong hai tên là đô thị lớn, hoặc khi hai tên đều ngắn, mang bản sắc riêng khó cắt bỏ.

Gia Lai – Kon Tum và Quảng Nam – Đà Nẵng biến mất khi tách tỉnh năm 1991 và 1997. Bà Rịa – Vũng Tàu, lập năm 1991, là tên ghép bằng gạch nối sống lâu nhất ở cấp tỉnh, đến tháng 6/2025. Thừa Thiên Huế là trường hợp gần giống nhưng viết liền không gạch: tên ghép giữa tên vùng Thừa Thiên và tên đô thị Huế, dùng cho tỉnh từ năm 1989 đến hết năm 2024; từ ngày 1/1/2025, khi lên thành phố trực thuộc trung ương, tên chính thức rút lại thành Huế.

Gạch nối trong những tên này là chỗ hay viết sai trên giấy tờ: có nơi bỏ gạch, có nơi dùng gạch ngắn, có nơi dùng dấu phẩy. Trên văn bản hành chính, nên chép đúng như văn bản gốc của từng thời kỳ khi trích dẫn giấy tờ cũ, còn với địa chỉ hiện hành thì dùng tên đơn vị mới, không cần đến các tên này nữa.

Kiểu ba: lấy tên sông, núi

Một số tỉnh lớn thời 1976 không ghép chữ mà lấy tên một yếu tố địa lý bao trùm cả vùng. Cửu Long, tên gọi của sông Mê Kông đoạn chảy qua Việt Nam với chín cửa đổ ra biển, được dùng cho tỉnh gồm Vĩnh Long và Trà Vinh. Hậu Giang, tên nhánh sông Hậu, dùng cho tỉnh gồm vùng Cần Thơ, Sóc Trăng. Sông Bé, tên con sông chảy qua Bình Phước và Bình Dương, dùng cho tỉnh gộp hai vùng này.

Hoàng Liên Sơn, tên dãy núi cao nhất Việt Nam, dùng cho tỉnh gồm Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ. Đây là kiểu đặt tên có ưu điểm trung lập: không tỉnh nào "mất tên" vào tỉnh nào, vì cái tên chung thuộc về cả vùng. Nhược điểm là người ngoài vùng khó định vị nếu không quen địa lý.

Các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang cũng mang chữ "Giang" nghĩa là sông, nhưng chúng không phải tên ghép. An Giang có từ thời Minh Mạng; Tiền Giang và Kiên Giang là tên đặt khi tổ chức lại tỉnh ở miền Nam. Đến năm 2025, Tiền Giang và Kiên Giang rời cấp tỉnh, còn An Giang vẫn là tên tỉnh.

Kiểu bốn: chọn tên mới và trường hợp Quảng Ninh

Minh Hải là tên được chọn khi hợp nhất Bạc Liêu và Cà Mau năm 1976, không ghép từ chữ nào trong hai tên tỉnh. Thuận Hải gộp Ninh Thuận và Bình Thuận, lấy chữ "Thuận" chung của hai tỉnh và thêm chữ "Hải" chỉ vùng biển. Cả hai tên này đều gợi đặc trưng biển của vùng đất, nhưng không gắn với địa danh cụ thể nào trước đó.

Quảng Ninh là trường hợp đáng chú ý nhất. Tỉnh được lập năm 1963 từ hai tỉnh Hồng Quảng và Hải Ninh, lấy chữ "Quảng" của Hồng Quảng và chữ "Ninh" của Hải Ninh. Sau hơn sáu mươi năm, tên ghép này đã trở thành tên gọi tự nhiên đến mức ít ai nhớ đây vốn là tên ghép. Quảng Ninh thuộc nhóm 11 tỉnh, thành giữ nguyên năm 2025, nên là tên ghép duy nhất còn làm tên cấp tỉnh.

Một trường hợp tương tự nhưng xa hơn là Vĩnh Phúc, ghép từ Vĩnh Yên và Phúc Yên từ khoảng năm 1950. Tên này tồn tại qua giai đoạn Vĩnh Phú, trở lại năm 1997, và đến năm 2025 rời cấp tỉnh khi Vĩnh Phúc nhập vào Phú Thọ. Như vậy, ngay cả tên ghép cũng có thể sống đủ lâu để trở thành tên "gốc".

Lớp tên cũ hơn: những tên tỉnh đơn rời bản đồ trước năm 1976

Bên dưới lớp tên ghép còn một lớp tên tỉnh đơn đã biến mất sớm hơn. Ở miền Bắc, đó là các tỉnh như Hà Đông, Sơn Tây (hợp thành Hà Tây năm 1965), Kiến An (nhập vào Hải Phòng đầu thập niên 1960), Hồng Quảng, Hải Ninh (hợp thành Quảng Ninh năm 1963), Nghĩa Lộ (đi vào Hoàng Liên Sơn năm 1976). Những cái tên này nay là tên quận, phường, thị xã cũ hoặc tên vùng.

Ở miền Nam, hệ thống tỉnh giai đoạn 1956–1975 có nhiều tên không còn dùng sau năm 1976, chẳng hạn Phước Tuy (vùng Bà Rịa), Tuyên Đức (vùng Đà Lạt), Quảng Tín (vùng Tam Kỳ), Quảng Đức (vùng Gia Nghĩa), Ba Xuyên (vùng Sóc Trăng), Chương Thiện (vùng Vị Thanh), Định Tường (vùng Mỹ Tho), Kiến Hòa (vùng Bến Tre), Vĩnh Bình (vùng Trà Vinh), An Xuyên (vùng Cà Mau), Kiến Phong, Kiến Tường ở vùng Đồng Tháp Mười. Cùng thời gian đó, chính quyền cách mạng ở miền Nam cũng dùng một hệ thống tên tỉnh riêng, có lúc trùng, có lúc khác.

Giấy tờ gốc cấp trước năm 1975 ở miền Nam vì vậy có thể ghi những tên tỉnh này. Cách tra cũng như với tên ghép: xác định huyện, quận cũ, rồi đối chiếu với tỉnh sau năm 1976 và tỉnh mới năm 2025. Lịch sử chi tiết của từng tên thuộc về các trang chuyên sâu về từng tỉnh; ở đây chỉ nêu để người đọc biết lớp tên ấy tồn tại và nên tìm hiểu ở đâu.

Vì sao tên ghép được ưa chuộng thời ấy và không dùng lại năm 2025

Tên ghép có lợi thế rõ: không tỉnh nào phải bỏ hẳn tên mình, người dân cả hai vùng đều thấy một phần quê mình trong tên tỉnh mới. Trong bối cảnh hợp nhất nhiều tỉnh cùng lúc năm 1976, đây là cách dung hòa dễ chấp nhận. Tên ghép cũng ngắn gọn, thường chỉ hai đến ba âm tiết.

Nhưng tên ghép cũng có nhược điểm thấy rõ qua thời gian: người ngoài vùng khó nhớ tỉnh nào ghép với tỉnh nào, và khi tách, tên ghép biến mất, để lại một lớp tên trên giấy tờ cũ cần tra ngược. Một số tên ghép như Hà Sơn Bình hay Hà Nam Ninh còn dễ gây nhầm với tên tỉnh đơn khác.

Ngoài ra, tên ghép đặt ra trong một thời điểm hành chính, không có chiều sâu lịch sử như các tên tỉnh đơn đã dùng hàng trăm năm. Khi tỉnh tách, người dân hầu như không lưu luyến tên ghép mà vui vẻ dùng lại tên cũ; trường hợp ngược lại, như Quảng Ninh hay Vĩnh Phúc, chỉ xảy ra khi tên ghép tồn tại đủ lâu, qua vài thế hệ, để tự nó trở thành tên quê hương. Đây là một lý do thực tế khiến các phương án đặt tên về sau nghiêng về giữ tên có sẵn.

Năm 2025, phương án được chọn là giữ nguyên tên một tỉnh, thành đang có cho mỗi đơn vị mới. Không có tên ghép nào được tạo thêm. Cách làm này tránh phải in lại một loạt tên lạ, giữ được các tên quen thuộc với cả nước và với các thương hiệu, chỉ dẫn địa lý. Lý do chính thức và các phương án đã cân nhắc nằm trong hồ sơ đề án; trang này chỉ ghi nhận kết quả.

Tên ghép trên giấy tờ cũ: tra ngược thế nào

Khi gặp một tên tỉnh ghép trên giấy tờ, dù là giấy khai sinh, học bạ hay bằng khen của người thân, bước đầu tiên là tách ra các tỉnh thành phần theo bảng ở trên. Bước thứ hai là xác định xã, huyện ghi trên giấy thuộc tỉnh thành phần nào; ví dụ giấy ghi huyện Tuy Phước, tỉnh Nghĩa Bình thì đó là vùng Bình Định. Bước thứ ba là đối chiếu tỉnh thành phần ấy sang tỉnh mới năm 2025; vùng Bình Định cũ nay thuộc tỉnh Gia Lai.

Với các tên lấy theo sông núi như Cửu Long, Hậu Giang, Sông Bé, Hoàng Liên Sơn, cũng làm như vậy, chỉ cần nhớ thành phần của từng tỉnh. Riêng Hậu Giang phải xem năm, vì cái tên ấy dùng cho hai tỉnh khác nhau ở hai thời kỳ.

Trong mọi trường hợp, tên huyện cũ là chìa khóa để tra. Vì vậy, khi làm hồ sơ gia phả hay thừa kế, nên ghi lại đầy đủ tên xã, huyện, tỉnh theo đúng giấy gốc, kèm năm cấp, trước khi chuyển sang cách ghi mới. Một bảng nhỏ ba cột gồm tên trên giấy gốc, năm cấp và đơn vị hiện hành tương ứng là đủ để người đọc sau này, kể cả cán bộ tiếp nhận hồ sơ, hiểu ngay mà không phải tra lại từ đầu.

Câu hỏi thường gặp

Tỉnh nào hiện nay vẫn mang tên ghép?

Quảng Ninh là tên ghép duy nhất còn dùng làm tên cấp tỉnh sau ngày 1/7/2025. Tên này được tạo năm 1963 từ chữ Quảng của tỉnh Hồng Quảng và chữ Ninh của tỉnh Hải Ninh, và Quảng Ninh thuộc nhóm 11 tỉnh, thành giữ nguyên.

Tên tỉnh Nghĩa Bình lấy từ đâu?

Nghĩa Bình ghép từ Quảng Ngãi và Bình Định. Chữ Nghĩa tương ứng chữ Hán của Ngãi trong tên Quảng Ngãi, chữ Bình lấy từ Bình Định. Tỉnh tồn tại từ năm 1976 đến năm 1989 rồi tách lại thành hai tỉnh.

Minh Hải là ghép từ những tỉnh nào?

Minh Hải là tỉnh gộp Bạc Liêu và Cà Mau từ năm 1976 đến hết năm 1996, nhưng tên không ghép chữ từ hai tỉnh này mà là tên được chọn mới. Năm 2025, hai vùng lại về chung trong tỉnh Cà Mau.

Vì sao năm 2025 không đặt tên tỉnh ghép?

Phương án được thông qua giữ tên một tỉnh, thành đang có cho mỗi đơn vị mới, nên không tạo tên ghép nào. Cách này giữ được tên quen thuộc với cả nước và với chỉ dẫn địa lý, thương hiệu địa phương; lý do chính thức nằm trong hồ sơ đề án.

Thừa Thiên Huế có phải tên ghép không?

Đây là tên ghép giữa tên vùng Thừa Thiên và tên đô thị Huế, dùng cho tỉnh từ năm 1989 đến hết năm 2024. Từ ngày 1/1/2025, khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương, tên chính thức là thành phố Huế.

Tỉnh Hoàng Liên Sơn nay là tỉnh nào?

Hoàng Liên Sơn gồm vùng Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ, tồn tại từ năm 1976 đến năm 1991. Từ ngày 1/7/2025, cả vùng này thuộc tỉnh Lào Cai mới, trung tâm hành chính đặt ở vùng Yên Bái cũ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.