VietNam34.comViệt Nam 34

Phường Cẩm Lệ

Phường thuộc Thành phố Đà Nẵng · đơn vị hành chính cấp xã từ 1/7/2025 · trước đây thuộc Quận Cẩm Lệ

Cẩm Lệ là phường thuộc Thành phố Đà Nẵng, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ ba phường Khuê Trung, Hòa Thọ Đông và Hòa Thọ Tây của quận Cẩm Lệ cũ. Phường rộng 14,05 km², dân số 78.837 người.

Tổng quan

Phường Cẩm Lệ nằm ở bờ bắc sông Cẩm Lệ, phía tây nam khu trung tâm Thành phố Đà Nẵng. Phường mang tên con sông chảy qua phía nam địa bàn và tên quận Cẩm Lệ (2005–2025) – quận nội thành duy nhất của Đà Nẵng không giáp biển. Ba phường hợp thành có gốc khác nhau: Khuê Trung vốn thuộc nội thành từ trước năm 1997, còn Hòa Thọ Đông và Hòa Thọ Tây là hai nửa của xã Hòa Thọ (huyện Hòa Vang) được chia và nâng lên phường năm 2005.

Phường rộng 14,05 km², dân số 78.837 người, mật độ khoảng 5.600 người/km². Trụ sở UBND phường đặt tại số 135 đường Ông Ích Đường. Trên địa bàn có Khu công nghiệp Hòa Cầm, cầu Cẩm Lệ, cầu Đỏ và di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ.

Tên gọi và ý nghĩa

Tên từ đâu ra. Tên phường lấy theo quận Cẩm Lệ – lập ngày 5/8/2005 – và xa hơn là theo sông Cẩm Lệ, đoạn sông từ cầu Đỏ xuống tới ngã ba nơi gặp sông Vĩnh Điện để thành sông Hàn. Sách Đại Nam nhất thống chí đã ghi sông Cẩm Lệ nằm trên địa giới hai huyện Diên Phước và Hòa Vang. Khi lập quận năm 2005, tên sông được chọn đặt cho quận; năm 2025 tên này được giữ cho phường trung tâm của vùng quận cũ. Ba tên phường cũ Khuê Trung, Hòa Thọ Đông, Hòa Thọ Tây thôi là tên hành chính.

Phân tích Hán Việt. Cẩm 錦 là gấm – loại vải dệt hoa, thường dùng để ví cái đẹp rực rỡ; âm lệ có nhiều chữ, trong địa danh hay dùng 麗 nghĩa là đẹp, tươi sáng. Cách hiểu thường gặp của tên là "đẹp như gấm". Âm lệ cũng có thể là 淚 (nước mắt) hay 例 (lệ thường), nhưng hai chữ ấy hầu như không dùng trong tên đất; tuy vậy, chưa tra được bản chữ Hán của tên sông trong thư tịch để khẳng định.

Tên các làng cũ. Khuê Trung là tên làng xưa: theo lịch sử hành chính huyện Hòa Vang, năm Minh Mạng thứ 5 (1824) huyện lỵ Hòa Vang được dời về xã Hóa Khuê Trung Tây, đến năm Tự Đức thứ 2 mới dời lại Ái Nghĩa. Phong Lệ – làng quê của danh tướng Ông Ích Khiêm – cũng nằm trong vùng này.

Trùng tên. Cả nước chỉ có một đơn vị cấp xã tên Cẩm Lệ.

Địa lý

Phường giáp phường Hòa Cường và An Khê ở phía bắc; phường Hòa Cường ở phía đông; phía nam là sông Cẩm Lệ, bên kia sông là phường Hòa Xuân và xã Hòa Tiến; phía tây giáp xã Hòa Vang và xã Bà Nà.

Sông Cẩm Lệ là đoạn hạ lưu của hệ sông nhận nước từ sông Yên (phân lưu của Vu Gia) và sông Túy Loan; hai sông này hợp nhau ở ngã ba giữa vùng Hòa Tiến, Hòa Phong và Hòa Thọ Tây cũ để thành sông Cầu Đỏ rồi sông Cẩm Lệ. Địa hình phía đông bằng phẳng, đã đô thị hóa; phía tây (Hòa Thọ Tây cũ) còn gò đồi thấp và đất ven sông, thường ngập khi lũ lớn từ thượng nguồn Vu Gia đổ về.

Lịch sử

Đất Hòa Vang xưa

Vùng đất thuộc huyện Hòa Vang, phủ Điện Bàn từ đầu thế kỷ XVII. Di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ ở bờ bắc sông Cẩm Lệ cạnh cầu Đỏ – nơi còn dấu tích nền một tháp Chăm – cho thấy vùng này có cư dân Champa trước khi người Việt tới lập làng; di chỉ được trao bằng xếp hạng di tích cấp thành phố năm 2021.

1976 – 2025

  • Sau 1976 – Phường Khuê Trung thuộc quận I; xã Hòa Thọ thuộc huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
  • 23/1/1997 – Khuê Trung thuộc quận Hải Châu mới lập.
  • 5/8/2005 – Chia xã Hòa Thọ thành Hòa Thọ Đông và Hòa Thọ Tây; lập quận Cẩm Lệ gồm hai xã này cùng Hòa Phát, Hòa An, Hòa Xuân (huyện Hòa Vang) và phường Khuê Trung (quận Hải Châu); các xã được nâng thành phường cùng tên.
  • 1/7/2025 – Theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15, toàn bộ Hòa Thọ Tây, Hòa Thọ Đông và Khuê Trung hợp thành phường Cẩm Lệ. Sau sắp xếp có 183 tổ dân phố, ký hiệu theo phường cũ (HTĐ, HTT, KT); tháng 7/2026 sắp xếp lại còn 32 tổ đánh số từ 1 đến 32.

Dân cư – xã hội

Phường có 78.837 người. Khu Khuê Trung phía đông là khu dân cư đô thị lâu năm, với nhiều khu đô thị mới phía nam đường Nguyễn Hữu Thọ ven sông; Hòa Thọ Đông là vùng chợ và dân cư dọc Quốc lộ 1 cũ; Hòa Thọ Tây còn các xóm làng gốc như Phong Lệ, xen khu công nghiệp và nhà trọ công nhân.

Trên địa bàn có Trường Đại học Ngoại ngữ (Đại học Đà Nẵng) và Bệnh viện Y học cổ truyền Đà Nẵng, cùng mạng lưới trường phổ thông các cấp kế thừa từ ba phường cũ. Tín ngưỡng gồm thờ cúng tổ tiên, nhà thờ tộc, đình làng; Phật giáo và Công giáo có cơ sở trong khu dân cư.

Kinh tế

Khu công nghiệp Hòa Cầm ở vùng Hòa Thọ Tây cũ là cơ sở công nghiệp chính của phường. Dọc Quốc lộ 1 cũ và các trục Ông Ích Đường, Cách Mạng Tháng Tám, Trường Chinh là chợ, cửa hàng, dịch vụ vận tải, vật liệu xây dựng; khu Khuê Trung, ven Nguyễn Hữu Thọ phát triển dịch vụ đô thị và bất động sản. Nông nghiệp chỉ còn manh mún ở bãi ven sông phía tây.

Văn hóa – di tích

  • Di chỉ khảo cổ Chăm Phong Lệ – bờ bắc sông Cẩm Lệ cạnh cầu Đỏ, dấu tích nền tháp Chăm; di tích cấp thành phố (2021).
  • Làng Phong Lệ – quê của Ông Ích Khiêm (1829–1884), danh tướng nhà Nguyễn, và Ông Ích Đường (1890–1908), liệt sĩ trong phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam; tên hai ông được đặt cho đường phố và trường học trong vùng.
  • Sông Cẩm Lệ với cầu Cẩm Lệ và cầu Đỏ – hai điểm vượt sông quen thuộc trên các tuyến cũ về Hội An, Quảng Nam.
  • Ẩm thực: các món chung của vùng Hòa Vang – Đà Nẵng như bánh tráng cuốn thịt heo, mì Quảng, bánh xèo.

Giao thông

Quốc lộ 1 cũ (Trường Chinh – Ông Ích Đường – Cách Mạng Tháng Tám) chạy dọc phường và vượt sông Cẩm Lệ bằng cầu Cẩm Lệ; cầu Đỏ ở phía tây là đầu mối của tuyến đi Hòa Vang, Đại Lộc. Đường Nguyễn Hữu Thọ chạy về phía sông; các cây cầu xây từ giữa thập niên 2010 nối vùng này sang khu đô thị Hòa Xuân ở bờ nam.

Bản đồ Phường Cẩm Lệ

Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗

Xã, phường cũ hợp thành

Phường Cẩm Lệ được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Đơn vị cũHuyện, quận, thị xã cũTỉnh cũPhạm vi
Phường Khuê TrungQuận Cẩm LệThành phố Đà Nẵng toàn bộ
Phường Hòa Thọ TâyQuận Cẩm LệThành phố Đà Nẵng toàn bộ
Phường Hòa Thọ ĐôngQuận Cẩm LệThành phố Đà Nẵng toàn bộ

Hỏi đáp nhanh

Phường Cẩm Lệ gồm những phường cũ nào?

Toàn bộ ba phường Khuê Trung, Hòa Thọ Đông và Hòa Thọ Tây thuộc quận Cẩm Lệ cũ.

Tên Cẩm Lệ có nghĩa là gì?

Cẩm 錦 là gấm, Lệ thường viết 麗 là đẹp – thường hiểu là "đẹp như gấm". Đây là tên sông Cẩm Lệ, được đặt cho quận năm 2005 và phường năm 2025.

Phường Cẩm Lệ rộng bao nhiêu, dân số bao nhiêu?

Rộng 14,05 km², dân số 78.837 người.

Khu công nghiệp Hòa Cầm thuộc phường nào?

Thuộc phường Cẩm Lệ (vùng phường Hòa Thọ Tây cũ).

Cùng Quận Cẩm Lệ trước đây

← Toàn bộ 94 xã, phường của Đà Nẵng Tra tên xã cũ → mới

Nguồn: nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 (1659/NQ-UBTVQH15); Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. · Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 · Wikipedia – Cẩm Lệ (phường) · Wikipedia – Cẩm Lệ (quận) · Wikipedia – Sông Hàn (đoạn Cẩm Lệ, Cầu Đỏ) · Wikipedia tiếng Anh – Cẩm Lệ River (dẫn Đại Nam nhất thống chí) · Wikipedia – Hòa Vang (huyện), lịch sử hành chính · Southeast Asian Archaeology – Cham Phong Le (theo Sài Gòn Tiếp Thị, 2/2021) · Cập nhật 05/11/2026 · Dữ liệu mở: JSON