Tứ Kỳ là xã thuộc Thành phố Hải Phòng, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ thị trấn Tứ Kỳ và các xã Minh Đức, Quang Khải, Quang Phục của huyện Tứ Kỳ cũ. Xã rộng 30,86 km², dân số 37.792 người, trụ sở đặt tại trụ sở huyện Tứ Kỳ cũ.
Tổng quan
Xã Tứ Kỳ thuộc Thành phố Hải Phòng là vùng trung tâm của huyện Tứ Kỳ cũ: thị trấn huyện lỵ (La Tỉnh, An Nhân), cùng ba xã Minh Đức, Quang Khải, Quang Phục – nơi từng đặt huyện lỵ Tứ Kỳ ở Mặc Xá (thời Cảnh Hưng) và An Phòng (1888–1947). Trụ sở xã đặt tại trụ sở Huyện ủy, HĐND, UBND huyện cũ.
Xã rộng 30,86 km², dân số 37.792 người, mật độ khoảng 1.220 người/km². Theo mô tả phổ biến, xã cách trung tâm Hải Phòng khoảng 34 km. Sông Tứ Kỳ chảy dọc giữa vùng, men theo thị trấn cũ; trên đất xã có đền Mắc thờ vua Quang Trung và làng thêu ren Nhũ Tỉnh.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên xã kế thừa tên thị trấn và huyện Tứ Kỳ. Chữ Hán là 四 và chữ kỳ – ban đầu dùng 歧, từ khoảng cuối thế kỷ XVII dùng 岐. Theo nghĩa chữ còn thấy trên bia đá đình chùa, "Tứ Kỳ" là "bốn đường rẽ", tức ngã tư đường.
Sách "Tứ Kỳ địa dư phong vật chí" của huấn đạo Nguyễn Năng Tấu (cuối thế kỷ XIX) chép: thành huyện Tứ Kỳ vốn là đồn binh nhà Lê ở xã Tứ Kỳ, gọi là đồn Tứ Kỳ; về sau nhân đó đặt tên huyện. Huyện lỵ ban đầu ở xã Tứ Kỳ (sau thuộc xã Ngọc Kỳ, gần sông Miêu Giang) – cũng như huyện Đường An lấy tên làng Đường An đặt huyện lỵ. Điều thú vị là đất xã Tứ Kỳ xưa nay không nằm trong xã Tứ Kỳ mới: Ngọc Kỳ năm 2024 nhập vào xã Kỳ Sơn, nay thuộc xã Tân Kỳ.
Huyện lỵ dời nhiều lần: thời Cảnh Hưng về Mặc Xá; năm 1813 về thôn An Hưng, xã An Lao; năm 1838 về La Tỉnh; năm 1888 về An Phòng (Yên Phòng) đến năm 1947; năm 1954 lại về La Tỉnh. Cả nước chỉ có một xã Tứ Kỳ.
Địa lý
Theo mô tả địa giới phổ biến, phía bắc xã giáp xã Đại Sơn; phía nam giáp các xã Ninh Giang, Nguyên Giáp; phía đông giáp các xã Chí Minh, Lạc Phượng; phía tây giáp các xã Tân Kỳ, Vĩnh Lại.
Sông Tứ Kỳ – nhánh của hệ thống sông Luộc – từ Ninh Giang chảy vào vùng theo hướng tây bắc – đông nam, men thị trấn cũ ở đoạn giữa thị trấn, xã Văn Tố với xã Minh Đức. Đất phù sa thấp; khí hậu nhiệt đới gió mùa đồng bằng Bắc Bộ.
Lịch sử
Trước thời Minh Mạng, huyện Tứ Kỳ thuộc phủ Hạ Hồng (cùng Gia Phúc, Thanh Miện, Vĩnh Lại); từ thời Minh Mạng thuộc phủ Ninh Giang. Giữa thập niên 1930 đến 1945, Tứ Kỳ là một phủ với 8 tổng, 89 xã. Sau Cách mạng, các xã nhỏ được hợp thành 23 xã lớn, trong đó có Minh Đức, Quang Khải, Ái Quốc (sau là Quang Phục). Năm 1979–1996 Tứ Kỳ hợp với Gia Lộc thành huyện Tứ Lộc. Ngày 16/6/1997, Nghị định 76-CP lập thị trấn Tứ Kỳ trên thôn An Nhân (xã Đông Kỳ) và thôn La Tỉnh (xã Tây Kỳ), rộng 476 ha, 6.722 nhân khẩu. Năm 2000 huyện Tứ Kỳ được phong Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15, xã Tứ Kỳ được lập từ toàn bộ thị trấn Tứ Kỳ (4,83 km², 9.124 người), xã Quang Khải (6,57 km², 7.001 người), Quang Phục (6,86 km², 8.230 người) và Minh Đức (12,60 km², 13.437 người), hoạt động từ 1/7/2025.
Dân cư – xã hội
Dân số 37.792 người. Thị trấn cũ chia 4 khu La Tỉnh Nam, La Tỉnh Bắc, An Nhân Đông, An Nhân Tây. Có cộng đồng Công giáo với nhà thờ An Cống (dựng muộn nhất năm 1904, xưa thuộc thôn An Cống, xã Bích Cẩm) và nhà thờ Thái Lãng. Là trung tâm huyện cũ, xã tập trung trường học, bệnh viện, cơ quan; dịch vụ phát triển ở thị trấn cũ và ngã tư Mắc.
Kinh tế
Tứ Kỳ vốn là huyện thuần nông, làng nghề ít phát triển hơn nơi khác. Trên địa bàn xã có làng nghề thêu ren Nhũ Tỉnh (Quang Khải cũ) và mây tre đan An Nhân (thị trấn cũ). Tư liệu huyện ghi trong 11 làng nghề được công nhận của Tứ Kỳ có 8 làng thêu ren, nhiều làng hoạt động cầm chừng. Thương mại – dịch vụ tập trung ở thị trấn Tứ Kỳ cũ và khu ngã tư Mắc.
Văn hóa – di tích
- Đền Mắc (thôn Bích Cẩm, xưa thuộc xã Mặc Xá) – thờ vua Quang Trung.
- Đền thờ Nhị vị Quan Nghè và tháp Thiên Ngọc Kết (thôn Mạc Xá).
- Chùa Đông Dương (Minh Đức cũ) – chùa cổ, xếp hạng di tích lịch sử năm 1994.
- Đình An Nhân (khu An Nhân Đông) – di tích cấp tỉnh; đình La Tỉnh, chùa Diên Khánh, miếu Đống Ốc (La Tỉnh Bắc), miếu Xoài (La Tỉnh Nam).
- Cây đa cách mạng trong khuôn viên Trường THCS Quang Phục.
Theo thống kê đến năm 2019, toàn huyện Tứ Kỳ cũ có 102 ngôi chùa cùng nhiều đình, đền, miếu – mật độ di tích dày đặc mà vùng trung tâm huyện là một phần tiêu biểu.
Giao thông
Đường tỉnh 391 chạy theo hướng tây bắc – đông nam, nối khu Hải Dương cũ với thị trấn Tứ Kỳ cũ rồi đi Quý Cao, gặp Quốc lộ 10. Đường 17 qua vùng Quang Khải, Dân An cũ sang Ninh Giang. Đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng đi qua địa bàn huyện cũ.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, xã Tứ Kỳ, thành phố Hải Phòng". Cư dân thị trấn Tứ Kỳ, Minh Đức, Quang Khải, Quang Phục cũ chuyển trọn về xã. Trụ sở xã đặt tại khu trụ sở huyện Tứ Kỳ cũ.
Bản đồ Xã Tứ Kỳ
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Tứ Kỳ được lập từ 4 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1669/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Thị trấn Tứ Kỳ | Huyện Tứ Kỳ | Tỉnh Hải Dương | toàn bộ |
| Xã Minh Đức | Huyện Tứ Kỳ | Tỉnh Hải Dương | toàn bộ |
| Xã Quang Khải | Huyện Tứ Kỳ | Tỉnh Hải Dương | toàn bộ |
| Xã Quang Phục | Huyện Tứ Kỳ | Tỉnh Hải Dương | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Tứ Kỳ gồm những đơn vị cũ nào?
Toàn bộ thị trấn Tứ Kỳ và các xã Minh Đức, Quang Khải, Quang Phục của huyện Tứ Kỳ cũ.
Tên Tứ Kỳ có nghĩa là gì?
Tứ Kỳ (四歧, sau viết 四岐) nghĩa là bốn ngả rẽ. Tên lấy từ đồn Tứ Kỳ của nhà Lê ở xã Tứ Kỳ, rồi thành tên huyện.
Đền Mắc thờ ai, ở đâu?
Đền Mắc thờ vua Quang Trung, ở thôn Bích Cẩm (xưa thuộc Mặc Xá), nay thuộc xã Tứ Kỳ, thành phố Hải Phòng.
Diện tích, dân số xã Tứ Kỳ là bao nhiêu?
Diện tích 30,86 km², dân số 37.792 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Trụ sở xã Tứ Kỳ ở đâu?
Tại trụ sở Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Tứ Kỳ cũ.
Cùng Huyện Tứ Kỳ trước đây
- Xã Chí Minh 32.636
- Xã Đại Sơn 30.616
- Xã Lạc Phượng 28.613
- Xã Nguyên Giáp 28.127
- Xã Tân Kỳ 38.172
← Toàn bộ 114 xã, phường của Hải Phòng Tra tên xã cũ → mới