Cô Tô là đặc khu thuộc Thành phố Quảng Ninh, đơn vị hành chính cấp xã lập trên cơ sở toàn bộ thị trấn Cô Tô, xã Đồng Tiến và xã Thanh Lân của huyện đảo Cô Tô cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 (16/6/2025), hoạt động từ 1/7/2025. Đặc khu gồm khoảng 71 hòn đảo ở rìa đông vịnh Bắc Bộ, rộng 53,68 km², dân số 7.151 người.
Tổng quan
Đặc khu Cô Tô là đơn vị hành chính xa bờ nhất của Quảng Ninh, nằm ở phía đông đặc khu Vân Đồn, giữa vịnh Bắc Bộ. Đặc khu giữ nguyên địa giới huyện Cô Tô cũ: thị trấn Cô Tô, xã Đồng Tiến (cùng trên đảo Cô Tô lớn) và xã Thanh Lân (đảo Thanh Lân, đảo Trần). Trụ sở đặt tại khu trụ sở Huyện ủy, HĐND, UBND huyện cũ, nay thuộc khu phố Chàng Sơn.
Diện tích 53,68 km², dân số 7.151 người, mật độ khoảng 133 người/km². Sau sắp xếp thôn, khu phố (hiệu lực từ 1/7/2026), đặc khu còn 7 đơn vị: khu phố Chàng Sơn, khu phố Nam Hải và các thôn Chiến Thắng, Đảo Trần, Đồng Tiến, Hồng Vàn, Thanh Lân.
Cô Tô được biết tới qua dấu mốc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm đảo năm 1961, qua bài ký “Cô Tô” của nhà văn Nguyễn Tuân, và gần đây là điểm du lịch biển với bãi Hồng Vàn, hải đăng Cô Tô. Từ 1/9/2026, đặc khu thuộc Thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương.
Đặc khu là gì
Từ ngày 1/7/2025, theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, đơn vị hành chính chỉ còn cấp tỉnh và cấp xã; đặc khu là một loại đơn vị cấp xã đặt ở hải đảo, đứng ngang hàng với xã và phường, trực thuộc chính quyền cấp tỉnh. Tên gọi “đặc khu” ở đây không mang nghĩa đặc khu kinh tế. Do có trên 1.000 dân thường trú, Cô Tô có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đặc khu, như một xã đảo đầy đủ chính quyền.
Tên gọi và ý nghĩa
Đặc khu kế thừa tên huyện Cô Tô (1994–2025), vốn là tên của hòn đảo lớn nhất và cả quần đảo. Trước khi có huyện, Cô Tô từng là tên xã, tên tổng; còn trước nữa, đảo có tên cổ là Chàng Sơn — tên này hiện vẫn sống trong tên khu phố Chàng Sơn ở trung tâm đặc khu, và gần với tên “Chàng Tây” mà dân gian gọi đảo Trần.
Nguồn gốc tên — chưa thống nhất
Từ điển Wiki Ngôn Ngữ có mục từ Cô Tô, giải thích đây là huyện đảo của Quảng Ninh nhưng không ghi chữ Hán. Nếu xét theo âm Hán Việt, hai âm “Cô Tô” trùng với 姑蘇 — tên cổ của thành Tô Châu (Giang Tô, Trung Quốc), vốn nổi tiếng trong thơ Đường (“Cô Tô thành ngoại Hàn San tự”). Vùng đảo này thời Nguyễn có nhiều người từ Trung Hoa sang sinh sống, nên có người liên hệ hai tên; tuy vậy chưa có tư liệu nào xác nhận tên đảo được đặt theo Tô Châu. Cũng có thể “Cô Tô” chỉ là cách ghi âm một tên gọi dân gian của ngư dân. Vì vậy bài viết không gán nghĩa chữ cho tên đặc khu.
Lịch sử tên
Năm 1832, Nguyễn Công Trứ xin lập làng xã trên đảo; làng đầu tiên là Hướng Hóa thuộc huyện Hoa Phong, năm 1841 đổi thành Nghiêu Phong. Đầu thế kỷ XX, Cô Tô là một tổng gồm năm xã thuộc phủ Hải Đông, tỉnh Hải Ninh. Tên Cô Tô dùng cho xã từ thời kháng chiến, cho huyện từ 23/3/1994 và cho đặc khu từ 2025.
Trùng tên
Tỉnh An Giang có xã Cô Tô (vùng Thất Sơn, nguyên là thị trấn Cô Tô của huyện Tri Tôn). Khi viết địa chỉ, cần ghi rõ “đặc khu Cô Tô, Thành phố Quảng Ninh” để phân biệt.
Địa lý
Cô Tô gồm khoảng 71 hòn đảo lớn nhỏ ở rìa đông vịnh Bắc Bộ. Ba đảo lớn nhất là Cô Tô lớn, Thanh Lân và đảo Trần. Cô Tô lớn và Thanh Lân nằm gần nhau, cùng các đảo nhỏ quanh đó tạo thành quần đảo Cô Tô; đảo Cô Tô con cách trung tâm khoảng 7 km. Đảo Trần (còn gọi đảo Chằn, Chàng Tây) nằm tách riêng ở góc đông bắc; ngày 28/10/1996 đảo được chuyển từ huyện Hải Ninh (Quảng Ninh) về Cô Tô, thuộc xã Thanh Lân.
Địa hình là đồi thấp: đỉnh Cáp Cháu trên Thanh Lân cao 210 m, đỉnh đài khí tượng trên đảo Cô Tô lớn cao khoảng 160 m. Bờ đảo xen kẽ vách đá, mỏm đá bị sóng bào mòn và những bãi cát trắng thoải. Đất nông nghiệp khoảng 771 ha (khoảng 20% diện tích tự nhiên), đất rừng khoảng 2.200 ha, trong đó có rừng nguyên sinh.
Nước ngọt là tài nguyên quý: đảo có hồ Trường Xuân (khoảng 170.000 m³); Thanh Lân có các hồ Chiến Thắng 2, Bạch Vân, C4; hồ C22 (khoảng 300.000 m³) được xây thêm. Khí hậu nhiệt đới gió mùa hải dương; mùa đông gió mùa đông bắc mạnh, mùa hè có bão — thời tiết quyết định lịch tàu ra đảo.
Lịch sử
Từ lâu Cô Tô là nơi neo đậu của ngư dân vùng Đông Bắc, nhưng việc định cư lâu dài gặp khó vì cướp biển thường xuyên quấy phá. Thời Nguyễn, dân số tăng lên với nhiều người di cư từ Trung Hoa. Đầu thế kỷ XX, quân Pháp dùng Cô Tô cùng cảng Vạn Hoa để kiểm soát vùng biển Hòn Gai – Hải Phòng. Tháng 11/1946, đại đội Ký Con ra giải phóng Cô Tô nhưng không thành; quân Pháp rút đi cuối năm 1955 theo Hiệp định Genève.
Đầu năm 1954 Cô Tô là xã thuộc huyện Móng Cái, sau đó thành hai xã đặc biệt trực thuộc tỉnh. Tháng 5 năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra thăm đảo; nơi Bác đến nay là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định 93/QĐ-TTg ngày 18/1/2022). Ngày 16/7/1964 hai xã Cô Tô, Thanh Lân nhập vào huyện Cẩm Phả (nay là Vân Đồn). Trước năm 1978 quần đảo có khoảng 6.740 người; sau 1978, phần lớn cư dân gốc Hoa rời đi, dân số giảm mạnh, rồi được bù lại dần bằng người từ đất liền ra lập nghiệp.
Ngày 23/3/1994, Chính phủ lập huyện Cô Tô gồm hai xã Cô Tô và Thanh Lân. Ngày 25/8/1999, xã Cô Tô được chia thành thị trấn Cô Tô và xã Đồng Tiến. Ngày 16/10/2013, điện lưới quốc gia vượt biển ra tới đảo. Khoản 53 Điều 1 Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 (16/6/2025) sắp xếp toàn bộ thị trấn Cô Tô, xã Đồng Tiến, xã Thanh Lân thành đặc khu Cô Tô, chính quyền hoạt động từ 1/7/2025; từ 1/9/2026 đặc khu thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Dân cư – xã hội
Dân số tăng đều theo thời gian: 5.240 người (1.178 hộ) năm 2006, 6.778 người (1.957 hộ) năm 2022 và 7.151 người theo số liệu sắp xếp năm 2025. Cư dân thuộc 13 dân tộc, đến từ hơn 14 tỉnh, thành — phần lớn là người Kinh ra đảo lập nghiệp qua các đợt di dân sau năm 1978.
Đời sống tập trung ở trung tâm đảo Cô Tô lớn (khu phố Chàng Sơn, Nam Hải), các thôn Đồng Tiến, Hồng Vàn và trên đảo Thanh Lân. Đảo có trường học từ mầm non tới trung học, trung tâm y tế; ca bệnh nặng thường phải chuyển vào đất liền bằng tàu, trong điều kiện thời tiết cho phép. Từ khi có điện lưới quốc gia (2013), sinh hoạt và kinh doanh trên đảo thay đổi rõ.
Kinh tế
Kinh tế Cô Tô chuyển từ đánh bắt hải sản sang du lịch – dịch vụ:
- Hải sản: từng là nguồn sống chính; nguồn lợi gần bờ suy giảm nên nhiều loài được bảo vệ, khai thác có kiểm soát. Mực, ghẹ, cầu gai, sá sùng là sản vật quen thuộc.
- Du lịch – dịch vụ: nhà nghỉ, khách sạn, ăn uống, cho thuê xe, tàu, chủ yếu sôi động vào mùa hè.
- Nông nghiệp: khoảng 771 ha đất nông nghiệp, trồng lúa, rau màu phục vụ tại chỗ; chăn nuôi quy mô hộ.
- Tiểu thủ công nghiệp: chế biến hải sản khô, sửa chữa tàu thuyền.
Văn hóa – di tích
Di tích nổi bật nhất là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (di tích quốc gia đặc biệt), nơi có tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đảo còn có Cột cờ Tổ quốc xây theo tỷ lệ 1:1 với cột cờ Hà Nội, chùa Trúc Lâm Cô Tô, nhà thờ giáo xứ Cô Tô (khánh thành ngày 28/5/2013).
Trong văn học, Cô Tô gắn với ký “Hải đảo Cô Tô” của Trần Thanh Địch (1964) và đặc biệt bài ký “Cô Tô” của Nguyễn Tuân, được nhiều thế hệ học sinh biết qua sách giáo khoa Ngữ văn — với những trang tả cảnh mặt trời mọc trên biển và giếng nước ngọt ở đảo Thanh Luân (tên Nguyễn Tuân dùng cho Thanh Lân).
Văn hóa cư dân là sự hòa trộn của người từ nhiều miền đất liền ra lập nghiệp: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cúng cầu ngư đầu năm, giữ nếp sinh hoạt làng chài.
Du lịch
- Bãi biển: Hồng Vàn (dài khoảng 4 km, được nhiều người coi là đẹp nhất đảo), bãi Tình Yêu gần trung tâm, Vàn Chảy, Móng Rồng, bãi Ba Châu trên đảo Thanh Lân (dài khoảng 1,5 km).
- Hải đăng Cô Tô: xây từ cuối thế kỷ XIX, trên đỉnh đồi cách trung tâm khoảng 5 km, là điểm ngắm toàn cảnh đảo.
- Cảnh quan: rừng nguyên sinh, hòn Cá Chép, các mỏm đá ven biển phía đông như khu vực Móng Rồng.
- Di tích: Khu lưu niệm Bác Hồ, Cột cờ Tổ quốc.
Mùa du lịch chính từ khoảng tháng 4 đến tháng 9; mùa đông biển động, lịch tàu thường bị điều chỉnh, có lúc tạm dừng khi có bão hay gió mùa mạnh. Trong mùa bão, cơ quan chức năng có thể yêu cầu dừng đón khách ra đảo.
Giao thông
Đường biển là con đường duy nhất ra Cô Tô: tàu khách chạy hằng ngày từ cảng ở Vân Đồn (Cái Rồng, Ao Tiên) ra cảng Cô Tô; cảng Bắc Vàn phục vụ đi các đảo nhỏ; âu cảng Cô Tô là nơi tránh trú bão cho tàu cá. Trên đảo Cô Tô lớn có đường nhựa nối trung tâm với các thôn, bãi biển; phương tiện phổ biến là xe máy, xe đạp, xe điện. Qua lại giữa Cô Tô lớn và Thanh Lân bằng tàu.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: …, khu phố/thôn …, đặc khu Cô Tô, Thành phố Quảng Ninh. Tên “thị trấn Cô Tô”, “xã Đồng Tiến”, “xã Thanh Lân” không còn là đơn vị hành chính; Đồng Tiến và Thanh Lân nay là tên thôn. Thủ tục hành chính giải quyết tại trụ sở đặc khu ở khu phố Chàng Sơn.
Bản đồ Đặc khu Cô Tô
Bản đồ tìm theo tên, ranh giới có thể chưa cập nhật sau sáp nhập. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Đặc khu Cô Tô được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Thị trấn Cô Tô | Huyện Cô Tô | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Đồng Tiến | Huyện Cô Tô | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Thanh Lân | Huyện Cô Tô | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Đặc khu Cô Tô gồm những đơn vị cũ nào?
Toàn bộ thị trấn Cô Tô, xã Đồng Tiến và xã Thanh Lân của huyện Cô Tô cũ (khoản 53 Điều 1 Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15).
Tên Cô Tô có nghĩa là gì?
Chưa có tư liệu xác nhận. Hai âm trùng với 姑蘇 (tên cổ của Tô Châu, Trung Quốc) nhưng không có bằng chứng tên đảo đặt theo đó. Tên cổ của đảo là Chàng Sơn.
Bác Hồ ra thăm Cô Tô năm nào?
Năm 1961 (tháng 5). Nơi Bác đến nay là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2022.
Đi Cô Tô bằng cách nào?
Chỉ bằng tàu biển, xuất phát từ các cảng ở đặc khu Vân Đồn (Cái Rồng, Ao Tiên). Lịch tàu phụ thuộc thời tiết, mùa đông và mùa bão có thể tạm dừng.
Diện tích, dân số đặc khu Cô Tô?
53,68 km², 7.151 người theo số liệu sắp xếp năm 2025.
Cô Tô ở Quảng Ninh và Cô Tô ở An Giang khác nhau thế nào?
Đặc khu Cô Tô là quần đảo thuộc Thành phố Quảng Ninh; xã Cô Tô là xã vùng Thất Sơn của tỉnh An Giang. Khi ghi địa chỉ phải ghi kèm tên tỉnh, thành.
← Toàn bộ 54 xã, phường của Quảng Ninh Tra tên xã cũ → mới