Hội An là phường thuộc Thành phố Đà Nẵng, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ các phường Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Nam và xã Cẩm Kim của thành phố Hội An cũ (tỉnh Quảng Nam). Phường rộng 10,81 km², dân số 37.222 người; Khu phố cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới – nằm trên địa bàn phường.
Tổng quan
Phường Hội An là lõi lịch sử của thương cảng Hội An xưa: toàn bộ khu đô thị cổ được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới ngày 4/12/1999 nằm trong phường, cùng hai cồn bãi bên kia sông Thu Bồn là Cẩm Nam và Cẩm Kim (làng mộc Kim Bồng). Phường là một trong bốn đơn vị cấp xã hình thành từ thành phố Hội An cũ khi tỉnh Quảng Nam hợp nhất vào Thành phố Đà Nẵng, và là đơn vị duy nhất giữ trọn tên "Hội An".
Phường rộng 10,81 km², dân số 37.222 người, mật độ khoảng 3.440 người/km². Trụ sở UBND phường đặt tại số 09 đường Trần Hưng Đạo. Ngày 24/12/2025, phường được xác định là đô thị loại II.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên từ đâu ra. Tên phường kế thừa từ thành phố Hội An (2008–2025) và thị xã Hội An trước đó; gốc xa hơn là làng Hội An. Năm 1553, Ô Châu cận lục của Dương Văn An liệt kê 66 xã của huyện Điện Bàn, có Hoài Phô, Cẩm Phô nhưng chưa có tên Hội An. Bản đồ của Đỗ Bá trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thời Lê) lần đầu ghi các địa danh Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều. Thời Minh Mạng, Hội An phố gồm sáu làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô; nhà nghiên cứu Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong các làng tạo nên quần cư Hội An cổ.
Phân tích Hán Việt. Hội 會 là gặp gỡ, hội tụ; An 安 là yên ổn, bình an. Cách giải phổ biến là "vùng đất hội tụ an lành" – nơi thương thuyền Nhật Bản, Trung Hoa, phương Tây gặp nhau buôn bán trong yên ổn.
Tên Faifo. Người phương Tây xưa gọi Hội An là Faifo. Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes (Roma, 1651) định nghĩa Hoài phô là một làng ở xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo. Về nguồn gốc chữ Faifo có nhiều thuyết được giới nghiên cứu nêu: từ "Hội An phố", hoặc từ "Hoài phố" (theo tên sông Hoài chảy qua phố cổ). Bản đồ Đông Dương thời Pháp dùng tên Faifo.
Giữ chữ "Hội An" năm 2025. Tháng 4/2025, Tỉnh ủy Quảng Nam lần lượt đưa ra hai phương án: Nghị quyết 45 đặt tên ba phường Hội An, Hội An Đông, Hội An Tây; Nghị quyết 46 (21/4) đổi hai phường sau thành Thanh Châu và Thanh Hà theo hướng dùng địa danh lịch sử. Phương án thứ hai gặp nhiều ý kiến phản đối của cư dân – trên mạng xã hội có cả lời kêu gọi "Tên Hội An cho người Hội An". Ngày 23/4/2025, tỉnh quay về phương án Nghị quyết 45; lãnh đạo thành phố giải thích mục đích là giữ thương hiệu Hội An gắn liền với di sản văn hóa thế giới.
Tên các phường cũ. Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Nam, Cẩm Kim thôi là tên hành chính nhưng phần lớn được giữ làm tên tổ dân phố.
Trùng tên. Cả nước còn xã Hội An thuộc tỉnh An Giang; khi ghi địa chỉ cần kèm "Thành phố Đà Nẵng".
Địa lý
Theo mô tả địa giới, phường giáp phường Hội An Đông ở phía đông, phường Điện Bàn ở phía tây, phường Hội An Tây ở phía bắc, xã Nam Phước ở phía nam.
Phường nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, gần cửa Đại. Khu phố cổ trải dọc bờ bắc sông (đoạn sông Hoài); bờ nam là các cồn, bãi bồi Cẩm Nam, Cẩm Kim kẹp giữa các nhánh sông. Địa hình thấp, bằng; mùa lũ (tháng 10–11), nước sông Thu Bồn thường dâng ngập các tuyến phố ven sông như Bạch Đằng, Nguyễn Thái Học – đặc điểm quen thuộc của đời sống phố cổ.
Lịch sử
Thương cảng Hội An
Các di tích khảo cổ quanh Hội An (Xuân Lâm, Cẩm Phô…) cho thấy cư dân văn hóa Sa Huỳnh đã sống ở đây khoảng 2.000 năm trước. Tiếp đó, vùng cửa sông là cảng của Champa. Từ cuối thế kỷ XV người Việt đến lập làng; cuối thế kỷ XVI – thế kỷ XVII, thương nhân Hoa, Nhật định cư, biến Hội An thành thương cảng phồn thịnh của Đàng Trong. Năm 1775 quân Trịnh chiếm dinh Quảng Nam, phố thị bị tàn phá; sang thế kỷ XIX, cửa sông bồi lấp, cảng thị suy giảm, nhường vai trò cho Đà Nẵng. Nhờ vậy, khu phố với nhà cửa thế kỷ XVII–XIX ít bị biến đổi.
Các đơn vị hợp thành
- Sau 1976 – Ba phường Cẩm Phô, Minh An, Sơn Phong và hai xã Cẩm Kim, Cẩm Nam thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng; từ 1997 thuộc tỉnh Quảng Nam.
- 4/12/1999 – UNESCO công nhận Đô thị cổ Hội An là di sản văn hóa thế giới.
- 8/3/2007 – Xã Cẩm Nam thành phường Cẩm Nam.
- 29/1/2008 – Lập thành phố Hội An.
- 1/7/2025 – Theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15, toàn bộ Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Nam và Cẩm Kim hợp thành phường Hội An. Tháng 8/2025 các khối phố, thôn chuyển thành tổ dân phố; năm 2026 phường còn 14 tổ: An Hội, An Thắng, Cẩm Kim, Cẩm Phô, Hà Trung, Kim Bồng, Minh An, Ngọc Thành, Phong Hòa, Sơn Phong, Thanh Nam, Tu Lễ, Xuân Thuận, Xuyên Trung.
Dân cư – xã hội
Phường có 37.222 người. Cư dân phố cổ gồm hậu duệ các gia đình buôn bán lâu đời người Việt, người Minh Hương và người Hoa, sống trong những ngôi nhà phố cổ vẫn đang dùng để ở và kinh doanh. Cẩm Nam, Cẩm Kim là vùng làng ven sông, nghề nông, nghề mộc và đánh bắt trên sông.
Đời sống tín ngưỡng đa dạng: thờ cúng tổ tiên, các hội quán của cộng đồng người Hoa (Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam…), đình, chùa, miếu. Wikipedia ghi các nhân vật gắn với địa bàn phường như nhà nghiên cứu sân khấu dân gian Hoàng Châu Ký.
Kinh tế
Du lịch di sản là ngành kinh tế chủ đạo: lưu trú, nhà hàng, cửa hàng may đo, thủ công mỹ nghệ, đèn lồng, dịch vụ thuyền trên sông Hoài, phố đêm. Chợ Hội An bên bờ sông vừa là chợ dân sinh vừa là điểm tham quan. Làng mộc Kim Bồng ở Cẩm Kim nổi tiếng với nghề mộc dân dụng, đóng ghe và chạm khắc gỗ – nghề gắn bó lâu đời với lối kiến trúc nhà gỗ của vùng Hội An.
Văn hóa – di sản
- Đô thị cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới (1999): khoảng hơn một nghìn công trình kiến trúc gồm nhà phố, nhà thờ tộc, hội quán, đình chùa, giếng cổ.
- Chùa Cầu (Lai Viễn kiều) – biểu tượng của Hội An, gắn với cộng đồng thương nhân Nhật Bản thế kỷ XVII.
- Các hội quán Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam, Trung Hoa; nhà cổ Tấn Ký, Phùng Hưng, nhà thờ tộc Trần.
- Đêm phố cổ, thả hoa đăng trên sông Hoài; ẩm thực Hội An với cao lầu, mì Quảng, bánh mì, cơm gà.
- Làng mộc Kim Bồng bên kia sông.
Giao thông
Khu phố cổ hạn chế xe cơ giới theo giờ, chủ yếu đi bộ, xe đạp. Các tuyến Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt nối phố cổ với đường ra Đà Nẵng, Điện Bàn và ra biển Cửa Đại. Cầu Cẩm Nam và các bến đò nối phố cổ với Cẩm Nam, Cẩm Kim; tàu thuyền đi Cù Lao Chàm xuất bến ở vùng Cửa Đại.
Bản đồ Phường Hội An
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Hội An được lập từ 5 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1659/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Cẩm Nam | Thành phố Hội An | Tỉnh Quảng Nam | toàn bộ |
| Phường Cẩm Phô | Thành phố Hội An | Tỉnh Quảng Nam | toàn bộ |
| Xã Cẩm Kim | Thành phố Hội An | Tỉnh Quảng Nam | toàn bộ |
| Phường Minh An | Thành phố Hội An | Tỉnh Quảng Nam | toàn bộ |
| Phường Sơn Phong | Thành phố Hội An | Tỉnh Quảng Nam | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Hội An gồm những đơn vị cũ nào?
Toàn bộ các phường Minh An, Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Nam và xã Cẩm Kim của thành phố Hội An cũ, tỉnh Quảng Nam.
Phố cổ Hội An thuộc phường nào?
Thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng.
Tên Hội An có nghĩa là gì?
Hội 會 là hội tụ, An 安 là bình an – thường giải là "vùng đất hội tụ an lành"; tên làng Hội An đã có trên bản đồ thời Lê.
Faifo là gì?
Tên người phương Tây xưa gọi Hội An; Từ điển của Alexandre de Rhodes (1651) đã ghi. Nguồn gốc chữ này có nhiều thuyết, như từ "Hội An phố" hay "Hoài phố".
Phường Hội An rộng bao nhiêu?
10,81 km², dân số 37.222 người.
Cùng Thành phố Hội An trước đây
- Phường Hội An Đông 31.109
- Phường Hội An Tây 42.370
- Xã Tân Hiệp 2.614
← Toàn bộ 94 xã, phường của Đà Nẵng Tra tên xã cũ → mới