Bình Kiến là phường ven biển thuộc tỉnh Đắk Lắk, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở các xã An Phú, Hòa Kiến, Bình Kiến và phần còn lại của Phường 9 thuộc thành phố Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên cũ). Diện tích 73,71 km², dân số 44.406 người.
Tổng quan
Bình Kiến là phường phía bắc đô thị Tuy Hòa, trải từ bãi biển Long Thủy vào tới vùng đồi giáp Phú Hòa, nay thuộc tỉnh Đắk Lắk. Ba trong bốn đơn vị hợp thành là xã ven đô (An Phú, Hòa Kiến, Bình Kiến); chỉ phần Phường 9 cũ vốn là đô thị.
Phường rộng 73,71 km², dân số 44.406 người, mật độ khoảng 600 người/km² — thấp hơn nhiều so với phường lõi Tuy Hòa. Phiếu dữ liệu sắp xếp ghi trụ sở phường “đang cập nhật”.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên kế thừa. Phường mới giữ tên xã Bình Kiến — một trong hai xã ngoại thị của thị xã Tuy Hòa sau năm 1975 (cùng Bình Ngọc). Từ đất Bình Kiến đã tách ra xã Hòa Kiến (1981) và Phường 9 (2003); năm 2025, cả ba lại về chung một tên, cùng với xã An Phú.
Nghĩa chữ. “Bình” thường là chữ 平 (bằng phẳng, yên ổn). “Kiến” có thể là 建 (dựng nên, xây dựng) hoặc 見 (thấy); tư liệu đã tra không có văn bản ghi chữ Hán của tên xã, nên không khẳng định. Nếu theo chữ 建, tên mang nghĩa “dựng nên cảnh yên bình”.
Hòa Kiến (tách năm 1981) ghép chữ “Hòa” — yếu tố chung của vùng Tuy Hòa — với chữ “Kiến” của xã gốc; đây là ví dụ rõ về cách đặt tên ghép khi chia xã. An Phú mang chữ “An” của vùng Tuy An, nơi xã này thuộc về cho đến năm 2005.
Trùng tên: không có đơn vị cấp xã nào khác tên Bình Kiến trong danh mục mới.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, phường giáp xã Tuy An Nam ở phía bắc, phường Tuy Hòa ở phía nam, biển Đông ở phía đông, xã Phú Hòa 2 ở phía tây.
Địa hình gồm dải cát và bãi biển ở phía đông (biển Long Thủy), đồng bằng ở giữa và đồi thấp ở phía tây bắc — Wikipedia mô tả địa hình Tuy Hòa cũ chia ba phần rõ rệt: đồi núi tây bắc, ven biển phía đông và đồng bằng phù sa. Tháng 9/2019, tại một mỏ đá ở thôn Xuân Dục (nay là khu phố Xuân Dục), đơn vị khai thác phát hiện các vỉa đá bazan hình cột tương tự Gành Đá Đĩa.
Theo các nghiên cứu được Wikipedia dẫn, đá bazan dạng cột ở dải Tuy An – Tuy Hòa có nguồn gốc từ các đợt phun trào núi lửa ở phía đông tỉnh (vùng cao nguyên Vân Hòa) cách đây hàng triệu năm; dòng dung nham khi nguội co ngót và nứt thành các lăng trụ khá đều.
Lịch sử
Bờ bắc sông Đà Rằng thời trước
Theo Wikipedia, khi huyện Tuy Hòa được nâng thành phủ năm 1899, chỉ có tổng Hòa Bình nằm ở bờ bắc sông Đà Rằng; năm 1900 lập thêm tổng Hòa Tường gồm một số làng trên đất Phú Hòa. Sau Cách mạng tháng Tám, năm 1946 cấp tổng bị bỏ, hai ba làng nhập thành một xã; năm 1947 nhập lần thứ hai, các xã phía bắc sông Đà Rằng mang những tên như Hòa Tiến, Hòa Thuận, Quang Khánh, Nam Tường, Trần Hào, Ái Quốc, Thắng Lợi, Vĩnh Hiệp, Cẩm Tú, Tân Tiến, Quốc Tiến. Ngày 10/3/1977, thị xã Tuy Hòa bị nhập vào huyện Tuy Hòa và hạ thành thị trấn; theo Quyết định 241/CP ngày 22/9/1978, thị xã được tái lập với sáu phường và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc.
Từ xã ngoại thị đến phường
Sau năm 1975, thị xã Tuy Hòa (tỉnh Phú Khánh) gồm sáu phường và hai xã Bình Kiến, Bình Ngọc. Ngày 30/9/1981, xã Bình Kiến được chia thành Bình Kiến và Hòa Kiến. Cùng năm, ở huyện Tuy An, xã An Chấn được chia để lập An Phú.
Ngày 20/8/2003, Nghị định 95/2003/NĐ-CP lập Phường 9 từ 1.002,8 ha và 11.872 người của xã Bình Kiến. Ngày 5/1/2005, Nghị định 03/2005/NĐ-CP thành lập thành phố Tuy Hòa, đồng thời chuyển xã An Phú từ huyện Tuy An về thành phố. Năm 2016, cả bốn xã ngoại thành Bình Ngọc, Hòa Kiến, Bình Kiến, An Phú hoàn thành chương trình nông thôn mới (theo Wikipedia). Năm 2024, Nghị quyết 1200/NQ-UBTVQH15 chia một phần Phường 9 cho Phường 2 và Phường 5.
Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 sắp xếp An Phú, Hòa Kiến, Bình Kiến và phần còn lại của Phường 9 thành phường Bình Kiến, hiệu lực 1/7/2025. Phường ban đầu có 23 khu phố; năm 2026 sắp xếp còn 16 (Cẩm Sơn, Chính Nghĩa, Liên Trì 1–4, Long Thủy, Minh Ngọc, Nguyễn Hữu Thọ, Phú Ân, Phú Vang, Phước Hậu, Thọ Vức, Thượng Phú, Xuân Dục, Xuân Quan Tường).
Dân cư và xã hội
Dân cư là sự pha trộn giữa khu phố đô thị (vùng Phường 9 cũ) với các làng nông nghiệp và làng biển của ba xã cũ. Tên khu phố giữ tên làng xưa: Liên Trì, Thọ Vức, Phú Vang, Thượng Phú, Xuân Dục, Long Thủy.
Kinh tế
Nông nghiệp ven đô (lúa, rau màu), đánh bắt hải sản ven bờ và dịch vụ là các mảng chính. Bãi biển Long Thủy là một trong các điểm du lịch biển của vùng Tuy Hòa — ảnh bãi biển này được dùng minh họa trong bài Wikipedia về tỉnh Đắk Lắk.
Trên địa bàn có mỏ khai thác đá ở khu vực Xuân Dục — nơi phát hiện đá bazan dạng cột năm 2019.
Văn hóa
Các làng biển giữ lễ cầu ngư — tỉnh Phú Yên cũ ghi lễ này diễn ra từ tháng 1 đến tháng 6 âm lịch khắp vùng ven biển; các làng nông nghiệp có hội bài chòi dịp Tết. Ẩm thực theo nét Tuy Hòa: bánh canh hẹ, bánh xèo, chả dông, hải sản.
Bản đồ Phường Bình Kiến
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Bình Kiến được lập từ 4 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Bình Kiến | Thành phố Tuy Hòa | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
| Phường 9 | Thành phố Tuy Hòa | Tỉnh Phú Yên | một phần |
| Xã An Phú | Thành phố Tuy Hòa | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
| Xã Hòa Kiến | Thành phố Tuy Hòa | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Bình Kiến gồm những đơn vị cũ nào?
Các xã An Phú, Hòa Kiến, Bình Kiến và phần còn lại của Phường 9, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên cũ.
Tên Bình Kiến có nghĩa là gì?
“Bình” là yên ổn (平); “kiến” có thể là 建 (dựng nên) hoặc 見 (thấy) — chưa có văn bản xác nhận chữ Hán.
Diện tích, dân số phường Bình Kiến?
73,71 km², 44.406 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Xã An Phú trước đây thuộc huyện nào?
Thuộc huyện Tuy An (tách từ An Chấn năm 1981), chuyển về thành phố Tuy Hòa năm 2005.
Cùng Thành phố Tuy Hòa trước đây
- Phường Phú Yên 61.799
- Phường Tuy Hòa 126.118
← Toàn bộ 102 xã, phường của Đắk Lắk Tra tên xã cũ → mới