Nậm Kè là xã biên giới giáp Lào của tỉnh Điện Biên, trên địa bàn huyện Mường Nhé cũ, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1661/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở hai xã Nậm Kè và Pá Mỳ. Diện tích 224,7 km², dân số 8.977 người.
Tổng quan
Bản Nậm Kè — nơi hơn 98% cư dân là người Cống, một trong những dân tộc ít người nhất Việt Nam — đã cho tên cho cả một xã biên giới. Xã Nậm Kè của tỉnh Điện Biên hiện nay gồm hai xã cũ Nậm Kè và Pá Mỳ của huyện Mường Nhé, có đường biên giới với Lào dài hơn 19 km do Đồn Biên phòng Nậm Kè quản lý.
Xã có diện tích 224,7 km², dân số 8.977 người, mật độ khoảng 40 người/km²; theo báo chí năm 2026, xã có 14 bản với bảy dân tộc cùng sinh sống. Trụ sở Đảng ủy, HĐND và UBND xã đặt tại trụ sở cũ của xã Nậm Kè. Một phần diện tích xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé.
Tên gọi và ý nghĩa
Kế thừa tên xã cũ. Xã mới giữ tên xã Nậm Kè (lập năm 2006); tên Pá Mỳ (lập năm 2009 từ chính đất Nậm Kè) nay chỉ còn là tên bản.
Tên gốc Thái, không phải Hán Việt. Hai âm “nậm” và “kè” đều không có chữ Hán Việt. Theo Nguyễn Khắc Ngữ (1963), “Nậm” trong tiếng Thái nghĩa là sông nhỏ, nên ở khắp vùng người Thái các con sông, suối nhỏ đều mang chữ Nậm ở đầu — Nậm Kè vì vậy trước hết là tên một dòng nước, sau mới thành tên bản và tên xã, giống như Nậm Pồ, Nậm Nhừ, Nậm Vì ở cùng vùng. Cần phân biệt với từ “nậm” trong tiếng Việt (bình nhỏ đựng rượu) — trùng âm, khác nguồn.
Phần “Kè” là tên riêng của dòng suối. Chưa tìm được nguồn giải thích đáng tin cậy, nên nghĩa của cả tên chưa thống nhất; không nên gán cho nó nghĩa của từ “kè” (bờ kè) trong tiếng Việt.
Tên Pá Mỳ cũng thuộc lớp địa danh Tây Bắc gốc dân tộc, chưa có nguồn giải nghĩa.
Tên Nậm Kè không trùng với xã phường nào khác trong cả nước.
Địa lý
Nậm Kè ở phía đông nam vùng Mường Nhé cũ, giữa xã Mường Toong ở phía bắc và xã Quảng Lâm ở phía nam. Xã có một đoạn đường biên giới Việt – Lào. Theo mô tả địa giới năm 2009, xã Pá Mỳ cũ giáp xã Mường Mô của huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu) ở phía đông.
Địa hình núi cao; báo chí giới thiệu Nậm Kè như một điểm “săn mây” của vùng Mường Nhé. Rừng tự nhiên còn khá nhiều; xã cũ Nậm Kè là một trong năm xã có diện tích thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. Khí hậu vùng núi cao Tây Bắc: mùa đông lạnh, nhiều sương; mùa mưa dễ sạt lở.
Lịch sử
Đất Nậm Kè vốn thuộc xã Mường Toong của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (cũ), rồi theo Mường Toong về huyện Mường Nhé năm 2002 và về tỉnh Điện Biên theo Nghị quyết 22/2003/QH11.
- 2006 — Nghị định 27/2006/NĐ-CP lập xã Nậm Kè từ 22.313,78 ha diện tích tự nhiên và 4.296 người của xã Mường Toong (cùng đợt lập xã Quảng Lâm).
- 16/4/2009 — Nghị định 17/NĐ-CP lập xã Pá Mỳ từ 6.941,07 ha diện tích tự nhiên và 2.225 nhân khẩu của xã Nậm Kè.
- 16/6/2025 — Nghị quyết 1661/NQ-UBTVQH15 nhập Pá Mỳ và Nậm Kè thành xã Nậm Kè mới, hoạt động từ 1/7/2025.
Với lần sáp nhập này, xã Nậm Kè trở lại gần đúng phạm vi ban đầu khi mới lập năm 2006.
Dân cư – xã hội
Xã có 8.977 người với bảy dân tộc. Bản Nậm Kè có 99 hộ, gần 500 nhân khẩu, hơn 98% là người Cống — cộng đồng có tiếng nói thuộc nhóm Tạng – Miến, cư trú tập trung ở vùng biên giới Điện Biên – Lai Châu. Bản Huổi Khon có người Mông; bản Pá Mỳ có gần 200 hộ tham gia trồng cà phê xen mắc ca.
Đời sống còn nhiều khó khăn, phần lớn dựa vào nương rẫy. Đồn Biên phòng Nậm Kè phối hợp với chính quyền tuyên truyền, vận động bỏ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; báo Nhân Dân ghi nhận bản Nậm Kè không còn trường hợp kết hôn không đăng ký. Cán bộ, chiến sĩ của đồn còn được phân công giúp đỡ từng nhóm hộ nghèo phát triển sản xuất.
Hệ thống trường lớp gồm trường bán trú cho học sinh bản xa và trạm y tế xã, theo mô hình chung của các xã biên giới.
Kinh tế
Kinh tế dựa vào nông nghiệp nương rẫy, đang chuyển dần sang cây lâu năm:
- Cà phê xen mắc ca — mô hình chính ở bản Pá Mỳ; theo báo Nhân Dân, diện tích trồng mới hai loại cây này của xã đạt hơn 110% chỉ tiêu tỉnh giao.
- Quế — bản Huổi Khon đã trồng hàng chục héc-ta.
- Sa nhân tím dưới tán rừng — theo số liệu năm 2025, xã Nậm Kè cũ có khoảng 26,18 ha và Pá Mỳ khoảng 12,15 ha, thuộc nhóm nhiều nhất huyện Mường Nhé.
Bên cạnh đó là chăn nuôi gia súc, gia cầm và khoán bảo vệ rừng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé.
Văn hóa
Nét văn hóa đặc trưng của xã gắn với người Cống ở bản Nậm Kè. Huyện Mường Nhé cũ đã phục dựng lễ cúng tổ tiên của người Cống — cùng với lễ Gạ Ma Thú của người Hà Nhì và lễ cầu mưa của người Si La — như một phần của chương trình bảo tồn văn hóa gắn với du lịch cộng đồng. Người Mông ở các bản như Huổi Khon giữ Tết và các tập quán riêng của mình.
Cảnh mây núi Nậm Kè có thể kết hợp trong hành trình lên ngã ba biên giới A Pa Chải ở xã Sín Thầu.
Hành chính
Địa chỉ từ 1/7/2025: bản …, xã Nậm Kè, tỉnh Điện Biên. Người dân hai xã cũ Nậm Kè và Pá Mỳ làm thủ tục tại UBND xã Nậm Kè. Khu vực biên giới có quy định riêng về đi lại, cư trú — khách đến các bản sát biên cần liên hệ Đồn Biên phòng Nậm Kè.
Bản đồ Xã Nậm Kè
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Nậm Kè được lập từ 2 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1661/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Hỏi đáp nhanh
Xã Nậm Kè mới gồm những xã cũ nào?
Gồm toàn bộ hai xã Pá Mỳ và Nậm Kè của huyện Mường Nhé cũ, theo Nghị quyết 1661/NQ-UBTVQH15, hoạt động từ 1/7/2025.
Tên Nậm Kè có nghĩa là gì?
“Nậm” là tiếng Thái chỉ sông nhỏ, dòng nước; “Kè” là tên riêng chưa có nguồn giải nghĩa. Nậm Kè vốn là tên một dòng suối, không phải tên Hán Việt.
Người Cống sống ở đâu trong xã Nậm Kè?
Tập trung ở bản Nậm Kè, nơi hơn 98% cư dân là người Cống (99 hộ, gần 500 nhân khẩu theo báo Nhân Dân năm 2026).
Xã Nậm Kè có giáp biên giới không?
Có. Xã có đường biên giới với Lào dài hơn 19 km, do Đồn Biên phòng Nậm Kè quản lý.
Diện tích và dân số xã Nậm Kè là bao nhiêu?
Diện tích 224,7 km², dân số 8.977 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Cùng Huyện Mường Nhé trước đây
- Xã Mường Nhé 24.294
- Xã Mường Toong 10.832
- Xã Quảng Lâm 10.021
- Xã Sín Thầu 6.058
← Toàn bộ 45 xã, phường của Điện Biên Tra tên xã cũ → mới