Đan Điền là xã thuộc Thành phố Huế, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở bốn xã Quảng Lợi, Quảng Phú, Quảng Thái và Quảng Vinh của huyện Quảng Điền cũ. Xã rộng 82,62 km², dân số 40.389 người, nằm ở phía tây đồng bằng Quảng Điền ven phá Tam Giang, mang lại tên huyện Đan Điền thời Lê.
Tổng quan
Trong số các tên mới của Thành phố Huế năm 2025, Đan Điền là một tên có từ thế kỷ XV được dựng lại: đó là tên huyện thời Lê sơ, trước khi vùng này được gọi là Quảng Điền. Xã gom bốn xã phía tây của huyện Quảng Điền cũ — Quảng Lợi, Quảng Phú, Quảng Thái, Quảng Vinh — trải từ đồng ruộng phía trong ra tới bờ phá Tam Giang.
Xã rộng 82,62 km², dân số 40.389 người, mật độ khoảng 490 người/km². Trụ sở Ủy ban nhân dân xã đặt tại thôn Lai Trung.
Wikipedia ghi trên địa bàn có đình làng Phong Lai, các di tích đồn Nam Giảng, đồn Lai Hà; tục tế Xuân – Thu, lễ Cầu Bông, hô bài chòi, đua ghe; nghề trồng thuốc lá, nấu rượu.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên xã khôi phục một tên lịch sử, không trùng với tên xã nào trong bốn xã hợp thành. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), khi Lê Thánh Tông định bản đồ, thừa tuyên Thuận Hóa có phủ Triệu Phong gồm 6 huyện, trong đó huyện Đan Điền — tức huyện Trà Kệ trước đó. Phần đất Thừa Thiên – Huế ngày nay khi ấy thuộc ba huyện Kim Trà, Đan Điền và Tư Vang. Dưới triều Nguyễn, huyện Đan Điền đổi thành huyện Quảng Điền. Tên Đan Điền còn gắn với dòng sông: sử thời Lê gọi sông Bồ là sông Đan Điền (丹田江) vì sông chảy qua địa phận huyện này.
Năm 2025, tên mới của huyện (Quảng Điền) được giao cho xã có trung tâm Sịa, còn tên cũ (Đan Điền) dành cho xã láng giềng này — hai xã cùng huyện cũ mang hai tên của cùng một huyện ở hai thời.
Tên Hán là 丹田. Chữ 丹 (đan) là màu son đỏ, cũng chỉ thuốc luyện (đan dược), nghĩa bóng là lòng son, thành thật; chữ 田 (điền) là ruộng. Theo mặt chữ là "ruộng son". Cùng hai chữ ấy, đan điền còn là thuật ngữ quen thuộc của y học cổ truyền và khí công, chỉ vùng bụng dưới rốn; các nguồn tra được không cho biết tên huyện có liên quan đến nghĩa này hay vì sao người xưa chọn tên. Chữ điền chung với Quảng Điền, Phong Điền.
Tên Đan Điền không trùng với đơn vị cấp xã nào khác trên cả nước.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, phía bắc xã giáp các phường Phong Phú và Phong Quảng (qua phá Tam Giang); phía nam giáp phường Hương Trà và Kim Trà; phía đông giáp xã Quảng Điền; phía tây giáp các phường Phong Dinh và Phong Thái.
Xã là đồng bằng thấp ven phá; phía bắc là mặt nước phá Tam Giang — phá dài khoảng 24–25 km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa Thuận An, sâu 2–4 m, đáy phần lớn là bùn sét. Đất ruộng phía trong được bồi đắp bởi hệ thống sông của vùng Quảng Điền. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa tập trung tháng 9–12, vùng trũng thường ngập trong mùa lũ.
Lịch sử
Đất xã thuộc huyện Đan Điền thời Lê, huyện Quảng Điền thời Nguyễn. Sau năm 1975, huyện Quảng Điền có 7 xã, trong đó Quảng Lợi, Quảng Phú, Quảng Vinh. Từ năm 1977 đến 1990, Quảng Điền cùng Phong Điền, Hương Trà nhập thành huyện Hương Điền. Theo Quyết định 03-HĐBT ngày 6/1/1983, xã Quảng Lợi được chia thành hai xã Quảng Lợi và Quảng Thái. Năm 1990, huyện Quảng Điền tái lập với 10 xã, có đủ bốn xã này.
Theo Wikipedia, vùng này có truyền thống hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng (Lực lượng vũ trang nhân dân và Lực lượng an ninh nhân dân) trong hai cuộc kháng chiến; di tích đồn Nam Giảng, đồn Lai Hà gắn với thời kỳ chiến tranh.
Theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025, toàn bộ bốn xã Quảng Thái, Quảng Lợi, Quảng Vinh, Quảng Phú hợp thành xã Đan Điền, hiệu lực từ 1/7/2025.
Dân cư – xã hội
Dân cư sống theo làng, nhiều làng giữ tên cổ. Danh sách thôn từ 1/7/2026 trên Wikipedia gồm Quảng Hòa, Phú Hòa, Hạ Lang, Phú Thuận, Đông Vinh, Nam Vinh, Bắc Vinh, Tây Vinh, Sơn Lai, Thạnh Lợi, Tháp Hà, Hà Sơn, Thống Nhất, Tam Giang, Tây Hà; trong đó còn tên các làng như Nho Lâm, Bắc Vọng, Lai Trung, Cao Xá, Đức Trọng, Ô Sa, Thanh Cần, Cổ Tháp, Cư Lạc, Mỹ Thạnh, Hà Công, Hà Lạc, Nam Giản, Trung Kiều, Lai Hà. (Wikipedia ghi "12 thôn" nhưng liệt kê 15 tên — cần đối chiếu quyết định của thành phố.)
Tín ngưỡng gồm thờ tổ tiên, thờ thần làng và Phật giáo. Các lễ tế Xuân – Thu và lễ Cầu Bông là sinh hoạt tín ngưỡng định kỳ của làng.
Kinh tế
Kinh tế gồm trồng lúa và hoa màu, các nghề thủ công được Wikipedia ghi nhận là trồng thuốc lá và nấu rượu, cùng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở các thôn ven phá Tam Giang (như Ngư Mỹ Thạnh, Tam Giang). Phá Tam Giang hằng năm cho hàng nghìn tấn cá, tôm; trên phá có các phiên chợ nổi họp từ sáng sớm, bán thủy sản đầm phá.
Văn hóa – di tích
- Đình làng Phong Lai.
- Di tích đồn Nam Giảng và đồn Lai Hà.
- Tục tế Xuân – Thu, lễ Cầu Bông; trò hô bài chòi và đua ghe — sinh hoạt văn hóa của làng ven phá.
- Cảnh quan phá Tam Giang.
Danh mục theo Wikipedia; chưa đối chiếu được cấp xếp hạng từng di tích.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, xã Đan Điền, Thành phố Huế". Người ở Quảng Lợi, Quảng Phú, Quảng Thái, Quảng Vinh cũ thuộc xã này; trung tâm huyện cũ (Sịa) thuộc xã Quảng Điền bên cạnh. Thủ tục hành chính làm tại trung tâm phục vụ hành chính công xã hoặc qua cổng dịch vụ công trực tuyến.
Bản đồ Xã Đan Điền
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Đan Điền được lập từ 4 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Quảng Lợi | Huyện Quảng Điền | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Quảng Phú | Huyện Quảng Điền | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Quảng Thái | Huyện Quảng Điền | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Quảng Vinh | Huyện Quảng Điền | Thành phố Huế | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Đan Điền gồm những xã cũ nào?
Bốn xã Quảng Lợi, Quảng Phú, Quảng Thái và Quảng Vinh của huyện Quảng Điền cũ, theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15.
Tên Đan Điền có nghĩa là gì?
Đan Điền (丹田): đan là màu son đỏ, điền là ruộng. Đây là tên huyện thời Lê (từ năm 1469), tiền thân của huyện Quảng Điền, và là tên cổ của sông Bồ (sông Đan Điền).
Đan Điền và Quảng Điền liên quan thế nào?
Là hai tên của cùng một huyện ở hai thời: thời Lê gọi Đan Điền, thời Nguyễn đổi Quảng Điền. Năm 2025 mỗi tên được đặt cho một xã của huyện cũ.
Xã Quảng Thái cũ hình thành thế nào?
Ngày 6/1/1983, xã Quảng Lợi được chia thành hai xã Quảng Lợi và Quảng Thái; năm 2025 cả hai nhập vào xã Đan Điền.
Đan Điền có những sinh hoạt văn hóa nào?
Theo Wikipedia: tế Xuân – Thu, lễ Cầu Bông, hô bài chòi, đua ghe; có đình làng Phong Lai và di tích đồn Nam Giảng, đồn Lai Hà.
Cùng Huyện Quảng Điền trước đây
- Phường Hóa Châu 41.328
- Phường Phong Quảng 25.728
- Xã Quảng Điền 41.798
← Toàn bộ 40 xã, phường của Huế Tra tên xã cũ → mới