Long Quảng là xã thuộc Thành phố Huế, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã Thượng Quảng, Thượng Long và Hương Hữu của huyện Phú Lộc (trước 2025 thuộc huyện Nam Đông). Xã rộng 215,85 km², dân số 8.883 người, là vùng núi phía tây Nam Đông cũ, nơi cư trú của đồng bào Cơ Tu.
Tổng quan
Xã Long Quảng nằm ở đầu phía tây vùng Nam Đông cũ, thuộc Thành phố Huế. Ba xã cũ hợp thành — Thượng Quảng, Thượng Long, Hương Hữu — là những xã vùng cao, phần lớn diện tích là rừng núi, nhiều thôn mang tên gốc Cơ Tu; trụ sở Ủy ban nhân dân xã đặt tại thôn A Chiếu.
Diện tích 215,85 km², dân số 8.883 người, mật độ khoảng 41 người/km² — thưa nhất trong các xã thuộc vùng Phú Lộc – Nam Đông cũ. Theo Wikipedia, xã giáp xã Nam Đông ở phía đông, xã A Lưới 5 ở phía tây, Đà Nẵng ở phía nam.
Cùng Khe Tre và Nam Đông, Long Quảng là một trong ba xã có Lễ hội mừng lúa mới của người Cơ Tu được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.
Tên gọi và ý nghĩa
Long Quảng là tên ghép theo lối quen thuộc của đợt sắp xếp năm 2025: lấy chữ cuối của hai xã cũ Thượng Long và Thượng Quảng, bỏ chữ "Thượng" chung. Xã thứ ba, Hương Hữu, không góp chữ vào tên mới. Chữ "Thượng" (ở trên, vùng cao) vốn là tiền tố chung của nhóm xã vùng cao Nam Đông (Thượng Long, Thượng Quảng, Thượng Lộ, Thượng Nhật).
Về chữ Hán, các tài liệu tra được không ghi chữ của hai xã cũ, nên chỉ nêu được các khả năng thường gặp trong địa danh. Âm long có thể là 隆 (thịnh vượng, dồi dào) hoặc 龍 (con rồng); âm quảng thường là 廣 (rộng lớn). Nếu theo cách đọc ấy, tên mang ý "thịnh vượng và rộng lớn" hoặc "rồng – rộng lớn"; vì chưa có văn bản gốc, hộp thông tin để trống phần chữ Hán.
Cần lưu ý đây là tên đặt bằng tiếng Việt Hán cho một vùng mà phần lớn địa danh thôn bản gốc tiếng Cơ Tu (A Chiếu, Ta Râu, Ka Loi, A Gôn…); tên Cơ Tu của các thôn không liên quan đến chữ Long, Quảng. Không có đơn vị cấp xã nào ở tỉnh khác mang tên Long Quảng.
Địa lý
Xã thuộc vùng núi sườn đông bắc Trường Sơn, nằm giữa vùng A Lưới ở phía tây và thung lũng Nam Đông ở phía đông, phía nam giáp vùng núi Đà Nẵng (Quảng Nam cũ). Địa hình đồi núi dốc, chia cắt bởi khe suối; dân cư tụ ở các thung lũng nhỏ ven suối. Khí hậu gió mùa vùng núi, mưa rất lớn cuối năm, mùa hè có gió tây nam khô nóng. Phần lớn diện tích là đất lâm nghiệp, như toàn huyện Nam Đông cũ (khoảng 418 km² đất lâm nghiệp trên 650 km²).
Lịch sử
Các xã cũ
Khi tỉnh Bình Trị Thiên được lập (1975–1976), huyện Nam Đông gồm 9 xã, trong đó có Hương Hữu, Thượng Long, Thượng Quảng. Theo Quyết định 62-CP ngày 11/3/1977, huyện Nam Đông nhập vào huyện Phú Lộc; từ 30/6/1989 thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế; theo Quyết định 345-HĐBT ngày 29/9/1990, huyện Nam Đông được tái lập và ba xã trở lại thuộc Nam Đông.
Thời chiến tranh
Vùng thung lũng Nam Đông gần biên giới Lào là nơi quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng cố vấn Mỹ, Úc đặt trại lực lượng dân sự chiến đấu (CIDG) Nam Đông, bị Quân Giải phóng tấn công trong hai ngày 5–6/7/1964. Báo Diễn đàn Doanh nghiệp (11/2023) cũng nhắc vùng Nam Đông từng là căn cứ kháng chiến của Tỉnh ủy Thừa Thiên. Các tài liệu này nói ở cấp huyện, chưa xác định di tích cụ thể nào trên đất Long Quảng.
2025
Từ 1/1/2025, theo Nghị quyết 1314/NQ-UBTVQH15, huyện Nam Đông nhập vào huyện Phú Lộc. Theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025, toàn bộ ba xã Thượng Quảng, Thượng Long và Hương Hữu hợp thành xã Long Quảng.
Dân cư – xã hội
Năm 2025 xã có 8.883 người. Huyện Nam Đông cũ có hai dân tộc chính là Kinh và Cơ Tu (người dân tộc thiểu số khoảng 41% dân số huyện); theo Wikipedia, sáu xã của huyện có trên 70% dân số là người dân tộc thiểu số. Tên thôn ở Long Quảng phần lớn là tên Cơ Tu. Đời sống cộng đồng của người Cơ Tu xoay quanh nhà Gươl, già làng và các lễ theo mùa vụ. Mỗi xã cũ có trường mầm non, tiểu học, THCS; học sinh THPT theo học ở trường THPT Nam Đông.
Kinh tế
Kinh tế dựa vào nông – lâm nghiệp: trồng và bảo vệ rừng, cây lâu năm, lúa nước ở thung lũng, lúa rẫy, ngô, sắn, chăn nuôi gia súc. Huyện Nam Đông cũ được Wikipedia mô tả là vùng có nhiều xã đặc biệt khó khăn (7 trong 10 xã), công tác định canh định cư của đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước đầu tư lâu năm.
Văn hóa – di tích
- Lễ hội mừng lúa mới của người Cơ Tu (Bhươih Haro Tơme) — di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (2025) của ba xã Long Quảng, Nam Đông, Khe Tre. Lễ tạ ơn các thần, nhất là thần lúa, sau mỗi mùa gặt; có lễ vật, hiến sinh, cồng chiêng, trống, múa Pađil Yayă và trang trí cây nêu Xơnur.
- Nhà Gươl — nhà làng của người Cơ Tu, nơi tổ chức sinh hoạt và lễ hội cộng đồng.
Giao thông
Đường từ Long Quảng đi về phía đông qua xã Nam Đông tới Khe Tre, rồi theo đường tỉnh 14B ra quốc lộ 1 và nút giao cao tốc La Sơn. Đường liên thôn ở vùng núi thường bị sạt lở, chia cắt trong mùa mưa lũ.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, xã Long Quảng, Thành phố Huế". Ba xã cũ hợp trọn. Thủ tục hành chính làm tại trung tâm phục vụ hành chính công xã hoặc qua cổng dịch vụ công trực tuyến.
Bản đồ Xã Long Quảng
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Long Quảng được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Hương Hữu | Huyện Phú Lộc | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Thượng Long | Huyện Phú Lộc | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Thượng Quảng | Huyện Phú Lộc | Thành phố Huế | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Long Quảng gồm những xã cũ nào?
Toàn bộ ba xã Thượng Quảng, Thượng Long và Hương Hữu — thuộc huyện Nam Đông đến hết năm 2024, rồi thuộc huyện Phú Lộc.
Tên Long Quảng có nghĩa là gì?
Là tên ghép từ chữ Long của xã Thượng Long và chữ Quảng của xã Thượng Quảng. Theo cách đọc thường gặp, quảng (廣) là rộng lớn, long có thể là 隆 (thịnh vượng) hoặc 龍 (rồng); chưa có văn bản gốc xác định chữ.
Long Quảng có lễ hội gì?
Lễ hội mừng lúa mới của người Cơ Tu, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025 cùng với hai xã Nam Đông và Khe Tre.
Xã Long Quảng giáp những đâu?
Theo Wikipedia: phía đông giáp xã Nam Đông, phía tây giáp xã A Lưới 5, phía nam giáp thành phố Đà Nẵng.
Cùng Huyện Phú Lộc trước đây
- Xã Chân Mây - Lăng Cô 50.831
- Xã Hưng Lộc 32.586
- Xã Khe Tre 12.882
- Xã Lộc An 39.217
- Xã Nam Đông 9.158
- Xã Phú Lộc 28.273
- Xã Vinh Lộc 36.350
← Toàn bộ 40 xã, phường của Huế Tra tên xã cũ → mới