Kim Sơn là xã thuộc tỉnh Ninh Bình, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15 từ ba xã Kim Định, Ân Hòa và Hùng Tiến của huyện Kim Sơn cũ. Xã rộng 17,6 km², dân số 20.161 người, giữ tên huyện; trên đất xã có làng Quy Hậu – nơi đặt huyện lỵ đầu tiên của Kim Sơn năm 1829.
Tổng quan
Xã Kim Sơn nằm ở phía đông bắc vùng Kim Sơn cũ, tỉnh Ninh Bình, bên bờ sông Đáy đối diện vùng Nghĩa Hưng. Đây là phần đất thuộc lớp khẩn hoang đầu tiên của Nguyễn Công Trứ: khi huyện Kim Sơn được lập ngày 5/4/1829, huyện lỵ đặt ở làng Quy Hậu, nay thuộc xã. Quốc lộ 10 chạy qua xã.
Xã rộng 17,6 km², dân số 20.161 người, mật độ khoảng 1.146 người/km². Trụ sở xã đặt tại xóm 4 Ân Hòa. Xã có 9 xóm: Thái Học, Ân Hòa, Thuần Hậu, Hùng Tiến, Quy Hậu, Chí Tĩnh, Tức Hiêu, Kim Định, Đại Thắng.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên xã kế thừa tên huyện Kim Sơn (1829–2025), không trùng tên đơn vị nào trong ba xã hợp thành. Huyện được đặt tên khi Nguyễn Công Trứ hoàn thành khẩn hoang vùng bãi biển Ninh Bình dưới triều Minh Mạng; cùng đợt ông lập huyện Tiền Hải ở Thái Bình.
Chữ Hán: 金山. Kim 金 là vàng, kim loại; Sơn 山 là núi. Wikipedia có hai cách giải: bài về huyện ghi "Kim Sơn có nghĩa là núi vàng", còn bài về Phát Diệm ghi Kim Sơn "hàm ý là rừng vàng" đi cặp với Tiền Hải "biển bạc". Theo mặt chữ, 金山 là "núi vàng"; cách hiểu "rừng vàng, biển bạc" là lối nói ẩn dụ cho sự giàu có của vùng đất mới. Điều đáng chú ý là Kim Sơn vốn là vùng đồng bằng không có núi – tên mang ý chúc phúc hơn là tả địa hình.
Sau năm 1954, nhiều xã trong huyện mang chữ Kim (Kim Định, Kim Chính, Kim Mỹ, Kim Tân, Kim Đông…). Ba tên cũ của xã đều qua nhiều lần đổi: Quy Hậu đổi thành Hùng Tiến năm 1956; Thái Học đổi thành Ân Hòa và Xuân Lan đổi thành Kim Định năm 1964. Trùng tên: cả nước còn xã Kim Sơn ở Đồng Tháp và Gia Lai.
Địa lý
Theo Wikipedia, xã giáp Chất Bình ở phía đông, Quang Thiện ở phía tây, các xã Hồng Phong và Quỹ Nhất (vùng Nghĩa Hưng cũ) ở phía tây nam qua sông Đáy, Khánh Nhạc ở phía bắc.
Đồng bằng phù sa thấp, đất màu mỡ thuộc vùng bắc Kim Sơn – vựa lúa của tỉnh theo Wikipedia. Hệ thống kênh mương đào kiểu xương cá từ thời Nguyễn Công Trứ để dẫn nước ngọt, thau chua, rửa mặn. Ranh giới bắc của huyện cũ với Yên Khánh là đê Đường Quan, tuyến đê đầu tiên đắp năm 1830.
Lịch sử
Trước năm 1828 vùng này là bãi biển lau sậy. Ngày 5/4/1829 huyện Kim Sơn được lập với 3 lý, 22 ấp, 24 trại, 4 giáp, chia làm 5 tổng (Chất Thành, Hồi Thuần, Quy Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân); huyện lỵ đặt ở làng Quy Hậu. Năm 1918 huyện không còn phụ thuộc phủ Yên Khánh. Huyện lỵ sau này chuyển về Phát Diệm.
Thời hiện đại: tháng 10/1956 xã Quy Hậu đổi tên Hùng Tiến; ngày 22/7/1964 xã Thái Học đổi tên Ân Hòa, xã Xuân Lan đổi tên Kim Định. Từ 1977 đến 1994, huyện Kim Sơn nhận thêm 9 xã của Yên Khánh rồi trả lại. Theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15, toàn bộ Kim Định, Ân Hòa, Hùng Tiến hợp thành xã Kim Sơn từ 1/7/2025, cùng ngày huyện Kim Sơn kết thúc.
Từ lớp đất đầu tiên quanh Quy Hậu, người Kim Sơn đã bảy lần quai đê lấn biển trong gần 200 năm; theo Wikipedia diện tích huyện nay gấp gần ba lần lúc mới lập. Các tuyến đê nối tiếp nhau – Đường Quan (1830), Hồng Ân (1899), Hoành Trực (1927), Văn Hải (1934), Cồn Thoi (1945), rồi các đê Bình Minh – đánh dấu từng bước tiến ra biển.
Dân cư – xã hội
20.161 người, quần tụ theo các xóm dọc kênh và đường. Dân cư vùng bắc Kim Sơn hình thành từ các đợt khẩn hoang thế kỷ XIX; huyện cũ có tỷ lệ người Công giáo gần một nửa dân số. Wikipedia ghi giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1909–1988) – giám mục tiên khởi của giáo phận Quy Nhơn và giáo phận Đà Nẵng – là người của xã.
Kinh tế
Nông nghiệp lúa nước là chủ lực, bên cạnh nghề trồng và chế biến cói – nghề có hơn 20 làng được công nhận trong huyện cũ. Chợ Quy Hậu (Hùng Tiến cũ) là chợ được xếp hạng. Tỉnh lộ 481D từ ngã ba Quy Hậu tới bến đò 10 sang Nam Định nối xã với bờ bên kia sông Đáy. Rượu Kim Sơn là đặc sản chung của huyện cũ.
Wikipedia ghi Kim Sơn từng cùng Hải Hậu (Nam Định) và Tiền Hải (Thái Bình) là những vùng đầu tiên đạt năng suất lúa 5 tấn/ha ở Việt Nam, và huyện cũ chiếm gần một phần ba sản lượng lúa của tỉnh Ninh Bình.
Văn hóa – di tích
Đất Quy Hậu gắn với ký ức lập huyện: nhiều miếu làng vùng Kim Sơn (như ở Quang Thiện) thờ "chiêu mộ, nguyên mộ, thứ mộ" – những người đứng ra chiêu mộ dân đi khai hoang lập ấp. Đền thờ Nguyễn Công Trứ – di tích quốc gia – nằm ở xã Quang Thiện lân cận. Bên cạnh đình miếu là các nhà thờ họ đạo thuộc giáo phận Phát Diệm.
Giao thông
Quốc lộ 10 đi qua xã; sông Đáy là tuyến thủy quốc gia. Tỉnh lộ 481D nối ngã ba Quy Hậu với đò 10.
Hành chính
Địa chỉ: "xóm…, xã Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình". Vì tên xã trùng tên huyện cũ và trùng với xã Kim Sơn ở Đồng Tháp, Gia Lai, nên ghi rõ cấp xã và tên tỉnh.
Bản đồ Xã Kim Sơn
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Kim Sơn được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Ân Hòa | Huyện Kim Sơn | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
| Xã Hùng Tiến | Huyện Kim Sơn | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
| Xã Kim Định | Huyện Kim Sơn | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Kim Sơn gồm những xã cũ nào?
Ba xã Kim Định, Ân Hòa và Hùng Tiến của huyện Kim Sơn cũ.
Tên Kim Sơn có nghĩa là gì?
Chữ Hán 金山 – núi vàng; Wikipedia cũng ghi cách hiểu "rừng vàng" đi cặp với Tiền Hải "biển bạc". Tên huyện đặt năm 1829.
Huyện lỵ đầu tiên của Kim Sơn ở đâu?
Ở làng Quy Hậu (xã Hùng Tiến cũ), nay thuộc xã Kim Sơn.
Xã Kim Sơn có trùng tên nơi khác không?
Có, xã Kim Sơn ở Đồng Tháp và Gia Lai.
Diện tích, dân số xã Kim Sơn?
17,6 km², 20.161 người theo số liệu sắp xếp năm 2025.
Cùng Huyện Kim Sơn trước đây
- Xã Bình Minh 31.090
- Xã Chất Bình 17.237
- Xã Định Hóa 24.438
- Xã Kim Đông 9.409
- Xã Lai Thành 28.718
- Xã Phát Diệm 37.617
- Xã Quang Thiện 26.860
← Toàn bộ 129 xã, phường của Ninh Bình Tra tên xã cũ → mới