Yên Từ là xã thuộc tỉnh Ninh Bình, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15 từ ba xã Yên Phong, Yên Nhân và Yên Từ của huyện Yên Mô cũ. Xã rộng 23,98 km², dân số 31.917 người, nằm bên kênh nhà Lê, có làng cổ Nộn Khê với lễ hội Báo Bản và món giò trứng.
Tổng quan
Xã Yên Từ ở phía đông nam vùng Yên Mô cũ, tỉnh Ninh Bình, trên tuyến kênh nhà Lê – con kênh mà Wikipedia gọi là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nối kinh đô Hoa Lư tới Đèo Ngang. Xã nằm giữa trung tâm Yên Mô và vùng Phát Diệm – Kim Sơn; quốc lộ 12B, 21B và cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng cùng đi qua.
Xã rộng 23,98 km², dân số 31.917 người, mật độ khoảng 1.331 người/km². Trụ sở xã đặt tại xóm Tây Quảng Từ. Nổi bật trong xã là làng Nộn Khê, nơi giữ lễ hội Báo Bản đầu xuân và nghề chế biến cói, đan bèo.
Tên gọi và ý nghĩa
Xã mới giữ tên xã Yên Từ cũ – tên trẻ nhất trong ba tên hợp thành. Theo Wikipedia, ngày 10/1/1984 Quyết định 2-HĐBT chia xã Yên Phong thành hai xã Yên Phong và Yên Từ; xã Yên Từ khi lập có 6 thôn Nộn Khê, Phúc Khê, Phúc Lai, Quang Tú, Xa Lung, Xuân Đồng. Năm 2025, Yên Phong – xã "mẹ" – cùng Yên Nhân nhập lại dưới tên Yên Từ.
Chữ đầu Yên là 安 (yên ổn), chữ chung của các xã thuộc huyện Yên Mô sau năm 1945. Chữ Từ chưa tra được văn bản gốc: âm này có thể là 慈 (hiền từ, thương yêu) hoặc 祠 (đền thờ, từ đường). Trong xã có làng Quảng Từ với đền Triệu, miếu Quảng Từ và trụ sở xã đặt ở xóm Tây Quảng Từ; tên xã có thể liên quan tới tên làng này, nhưng chưa có tài liệu xác nhận. Cần phân biệt Yên Từ với núi Yên Tử (Quảng Ninh) – hai tên khác dấu, khác nơi.
Hai tên cũ không còn dùng: Yên Phong và Yên Nhân (Nhân thường hiểu là nhân ái). Trong cả nước không có xã, phường nào khác tên Yên Từ.
Địa lý
Theo Wikipedia, xã giáp Yên Mô ở phía bắc; Lai Thành và Phát Diệm (vùng Kim Sơn cũ) ở phía nam; Yên Mạc và Yên Mô ở phía tây; Khánh Nhạc và Yên Khánh ở phía đông. Sông Vạc chảy qua xã; kênh nhà Lê (đoạn còn gọi sông Yên Mô) chảy qua phía nam.
Địa hình đồng bằng phẳng, đất phù sa và đất bãi ven sông, kênh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình.
Lịch sử
Kênh nhà Lê được đào từ thời Tiền Lê (thế kỷ X), nối Hoa Lư với phương nam; Wikipedia ghi tuyến kênh được ví như "đường Hồ Chí Minh trên sông" vì vai trò trong các cuộc chiến tranh của người Việt.
Huyện Yên Mô, nơi có đất Yên Từ, theo Wikipedia thời Trần gọi là Mô Độ, từ thời Lê thuộc phủ Trường Yên; trước năm 1945 huyện có 9 tổng. Trong hai năm 1948–1949 các xã nhỏ được hợp thành 8 xã lớn, trong đó có Yên Nhân và Yên Phong; năm 1956 lại chia thành 14 xã.
Thời hiện đại, ngày 23/2/1977, thôn Liên Phương của Yên Từ được nhập vào Yên Nhân, thôn Bình Minh nhập vào Yên Phong. Cũng năm 1977, Yên Mô và một phần Yên Khánh hợp thành huyện Tam Điệp; năm 1984 Yên Phong được chia đôi lập Yên Từ; năm 1994 huyện được đổi tên lại là Yên Mô. Theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15, toàn bộ ba xã Yên Phong, Yên Nhân, Yên Từ hợp thành xã Yên Từ mới từ 1/7/2025. Xã có 15 thôn: Thọ Bình, Khương Dụ, Hoàng Bắc, Quảng Phúc, Yên Phong, Phúc Long, Quảng Từ, Đông Nộn Khê, Tây Nộn Khê, Liên Phương, Phương Nại, Đông Bình Hải, Tây Bình Hải, Vĩnh Lộc, Hà Thanh.
Dân cư – xã hội
31.917 người. Làng lương và làng có đạo đan xen: giáo xứ Quảng Phúc, giáo xứ Bình Hải và các họ đạo Trung Đồng, Hà Thanh, Cái Bình, Xóm Ngoài. Đình đền nhiều nơi thờ Triệu Việt Vương, Nguyễn Phục, Tam Ngọ Đại vương. Ở làng Nộn Khê, đình làng thờ cả cụ chiếm xạ Bùi Công Mẫn cùng 26 cụ thủy tổ – dấu vết của những người khai khẩn lập làng.
Kinh tế
- Chế biến cói, đan bèo Nộn Khê – làng nghề của huyện Yên Mô cũ.
- Nghề xây dựng, thợ nề Bình Hải (Yên Nhân cũ).
- Giò trứng Nộn Khê: thịt lợn gói cùng trứng vịt luộc, ép chặt, khi thái có hình "hoa trứng"; xưa chỉ làm dịp Tết, nay nhiều hộ làm quanh năm để bán.
- Chợ Nuốn Khê (thôn Nộn Khê) và chợ Lồng (Yên Phong cũ); cảng Cầu Rào ở Yên Phong cũ.
Lúa nước là nền nông nghiệp; các tuyến quốc lộ và cao tốc mở thêm dịch vụ vận tải, buôn bán.
Văn hóa – di tích
Làng Nộn Khê là di tích được xếp hạng của huyện Yên Mô cũ. Lễ hội Báo Bản ở Nộn Khê diễn ra ngày 12, 13, 14 tháng Giêng âm lịch. Các di tích khác: chùa Cống (Quảng Phúc), đền Triệu và miếu Quảng Từ thờ Triệu Quang Phục, đền Bình Hải (đền Thượng) thờ tướng Linh Công thời Hùng Vương và ba vị tướng họ Bạch thời Hai Bà Trưng, đền Hương Thị thờ Triệu Việt Vương, đền Vân Mộng thờ thần y Nguyễn Cảnh Dinh, nhà thờ Lê Khắc Hài.
Giao thông
Quốc lộ 12B, quốc lộ 21B và đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng đi qua xã. Đường thủy có kênh nhà Lê và sông Vạc, cảng Cầu Rào.
Hành chính
Địa chỉ mới có dạng "thôn…, xã Yên Từ, tỉnh Ninh Bình". Các thôn Bình Hải, Phương Nại, Vĩnh Lộc, Hà Thanh (Yên Nhân cũ) và Thọ Bình, Khương Dụ, Quảng Phúc (Yên Phong cũ) nay chung một xã với Nộn Khê, Quảng Từ.
Bản đồ Xã Yên Từ
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Yên Từ được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Yên Từ | Huyện Yên Mô | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
| Xã Yên Nhân | Huyện Yên Mô | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
| Xã Yên Phong | Huyện Yên Mô | Tỉnh Ninh Bình | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Yên Từ gồm những xã cũ nào?
Ba xã Yên Phong, Yên Nhân và Yên Từ của huyện Yên Mô cũ.
Tên Yên Từ có nghĩa là gì?
Yên 安 là yên ổn (chữ chung của các xã huyện Yên Mô); chữ Từ có thể là 慈 hoặc 祠, chưa có văn bản xác nhận. Tên giữ lại từ xã Yên Từ lập năm 1984.
Yên Từ có phải Yên Tử?
Không. Yên Từ (dấu huyền) là xã ở Ninh Bình; Yên Tử (dấu hỏi) là núi ở Quảng Ninh.
Lễ hội Báo Bản Nộn Khê diễn ra khi nào?
Ngày 12–14 tháng Giêng âm lịch tại làng Nộn Khê, xã Yên Từ.
Diện tích, dân số xã Yên Từ?
23,98 km², 31.917 người theo số liệu sắp xếp năm 2025.
Cùng Huyện Yên Mô trước đây
- Phường Yên Thắng 28.405
- Xã Đồng Thái 24.049
- Xã Yên Mạc 22.524
- Xã Yên Mô 35.415
← Toàn bộ 129 xã, phường của Ninh Bình Tra tên xã cũ → mới