Vàng Danh là phường thuộc Thành phố Quảng Ninh, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 từ các phường Vàng Danh, Bắc Sơn, Nam Khê và một phần phường Trưng Vương của thành phố Uông Bí cũ. Phường rộng 93,77 km², dân số 36.864 người, trải từ quốc lộ 18 lên tới vùng mỏ than dưới chân cánh cung Đông Triều.
Tổng quan
Phường Vàng Danh là phường mỏ của vùng Uông Bí cũ: tên phường cũng là tên một trong những khu khai thác than hầm lò lâu đời nhất ở bể than Quảng Ninh. Phường được lập khi Quảng Ninh sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025, và từ ngày 1/9/2026 thuộc Thành phố Quảng Ninh (Nghị quyết 36/2026/QH16).
Theo số liệu sắp xếp, phường rộng 93,77 km², dân số 36.864 người, mật độ khoảng 393 người/km². Dân cư dồn ở hai đầu: phía nam là phố xá ven quốc lộ 18 (phần Trưng Vương, Nam Khê cũ), phía bắc là khu mỏ và khu tập thể thợ mỏ Vàng Danh; khoảng giữa và phía bắc là đồi núi, rừng trồng và khai trường.
Trụ sở chính quyền phường đặt tại trụ sở cũ của phường Trưng Vương, gần trục quốc lộ — vị trí thuận cho cả cư dân phía nam lẫn người từ khu mỏ xuống.
Tên gọi và ý nghĩa
Phường mới giữ nguyên tên phường Vàng Danh cũ, một trong bốn đơn vị hợp thành. Tên Vàng Danh đã gắn với mỏ than từ thời Pháp thuộc và được dùng cho thị trấn mỏ, rồi cho phường từ năm 1981, nên được chọn làm tên chung thay vì Bắc Sơn, Nam Khê hay Trưng Vương.
Nguồn gốc hai chữ
Theo công cụ tra cứu của Wiki Ngôn Ngữ, âm vàng không có chữ Hán Việt tương ứng, tức là yếu tố thuần Việt hoặc gốc ngôn ngữ khác; còn âm danh trong Hán Việt thường ứng với chữ 名 (tên, tiếng tăm). Tuy nhiên chưa có tài liệu nào cho thấy địa danh Vàng Danh được ghi bằng chữ 名, và một tên ghép nửa Việt nửa Hán như vậy là ít gặp. Cách hiểu thận trọng nhất: Vàng Danh là tên dân gian của vùng núi, nghĩa gốc chưa được giải thích thống nhất. Lối giải nghĩa “vàng” là màu của than hay vàng bạc chỉ là liên tưởng, không có căn cứ.
Các tên khác trong lòng phường
Ba đơn vị còn lại đều là tên đặt trong thời kỳ đô thị hoá: Bắc Sơn (núi phía bắc), Nam Khê (khe suối phía nam) mang dáng Hán Việt chỉ phương hướng – địa hình; Trưng Vương lấy tên Hai Bà Trưng. Những tên này nay còn trong tên khu phố, trường học, chợ.
Trùng tên
Trong danh mục cấp xã hiện hành, chỉ có một đơn vị tên Vàng Danh; viết “Phường Vàng Danh” là đủ định danh, nhưng nên ghi kèm “Thành phố Quảng Ninh” cho đầy đủ.
Địa lý
Phường trải theo chiều bắc – nam, từ dải đất bằng ven quốc lộ 18 lên tới sườn nam của cánh cung Đông Triều – dãy núi làm ranh giới với đất Bắc Ninh (vùng Sơn Động, Bắc Giang cũ). Địa hình phía bắc là đồi núi cao, độ dốc lớn, bị chia cắt bởi các khe suối chảy về phía nam; đây cũng là nơi các vỉa than nằm sâu, khai thác bằng hầm lò.
Láng giềng: phía tây và tây nam là phường Uông Bí và phường Yên Tử; phía nam giáp phường Đông Mai (vùng Quảng Yên cũ); phía đông là xã Quảng La (vùng Hoành Bồ cũ); phía bắc là đất Bắc Ninh.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi Đông Bắc, mùa đông lạnh hơn khu đồng bằng phía nam, mưa tập trung mùa hè. Rừng trồng keo, thông phủ nhiều sườn đồi; những khu bãi thải mỏ cũ đang được cải tạo, trồng cây.
Lịch sử
Đầu thế kỷ XX, người Pháp mở các mỏ than Uông Bí – Vàng Danh, dựng đường goòng, nhà máy điện và cảng Điền Công để đưa than ra sông. Sau hoà bình lập lại, ngày 15/8/1961 Bộ Công nghiệp nặng lập công trường Vàng Danh để khôi phục và mở rộng khai thác — mốc mà ngành than vẫn coi là ngày truyền thống của mỏ Vàng Danh. Cùng năm 1961 thị xã Uông Bí ra đời.
Vùng mỏ đông dần thành thị trấn Vàng Danh; ngày 10/9/1981, thị trấn được chuyển thành phường Vàng Danh thuộc thị xã Uông Bí. Các phường Bắc Sơn, Nam Khê, Trưng Vương hình thành trong quá trình mở rộng đô thị Uông Bí; Uông Bí lên thành phố năm 2011.
Sắp xếp năm 2025
Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 nhập toàn bộ phường Bắc Sơn, Nam Khê, Vàng Danh và phần còn lại của phường Trưng Vương (sau khi tách một phần sang phường Uông Bí) thành phường Vàng Danh mới, hoạt động từ 1/7/2025. Từ 1/9/2026 phường thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Dân cư – xã hội
Gần 37 nghìn cư dân của phường phần lớn là người Kinh. Một bộ phận lớn là gia đình công nhân mỏ, nhiều thế hệ cùng làm than; nhiều người có gốc Thái Bình, Nam Định, Hải Dương… lên mỏ từ những năm 1960–1980. Nếp sống khu tập thể, nhà văn hoá khu phố, câu lạc bộ thợ mỏ còn rõ.
Phường có các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở phục vụ con em công nhân; trạm y tế phường lo chăm sóc ban đầu, ca bệnh nặng chuyển về các bệnh viện ở khu trung tâm Uông Bí. Bệnh nghề nghiệp của thợ lò là mối quan tâm thường trực trong y tế lao động của vùng.
Kinh tế
Trụ cột kinh tế là khai thác than hầm lò, với các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) mà tên gọi quen thuộc nhất là mỏ than Vàng Danh. Đi kèm là các ngành phụ trợ: cơ khí sửa chữa thiết bị mỏ, vận tải than, sàng tuyển, cung ứng vật tư.
Phía nam phường, phần Trưng Vương và Nam Khê cũ, kinh tế đô thị chiếm ưu thế: buôn bán, dịch vụ ăn uống, nhà trọ, xây dựng. Nông – lâm nghiệp giữ phần nhỏ, chủ yếu trồng rừng sản xuất trên đồi và trồng rau, lúa ở các khoảnh đất thấp.
Văn hoá
Văn hoá Vàng Danh là văn hoá thợ mỏ: ngày truyền thống ngành than 12/11 và ngày thành lập mỏ, hội diễn văn nghệ công nhân, giải bóng đá, các bài ca về người thợ lò. Đời sống tín ngưỡng của cư dân gồm thờ cúng tổ tiên, lễ chùa, lễ đình theo nếp các làng quê đồng bằng mà nhiều gia đình thợ mỏ mang theo khi lên vùng than.
Phường nằm sát khu di tích Yên Tử ở phía tây; trong mùa lễ hội tháng Giêng, dòng người hành hương đi qua vùng Uông Bí kéo theo nhu cầu dịch vụ ở khu dân cư phía nam phường.
Giao thông
Quốc lộ 18 chạy qua phần phía nam phường. Từ quốc lộ có đường mỏ chạy lên khu Vàng Danh ở phía bắc, đồng thời là tuyến chở than từ khai trường xuống. Phường cách trung tâm phường Uông Bí vài cây số, cách Hạ Long khoảng 40 km về phía đông.
Bản đồ Phường Vàng Danh
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Vàng Danh được lập từ 4 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Trưng Vương | Thành phố Uông Bí | Tỉnh Quảng Ninh | một phần |
| Phường Vàng Danh | Thành phố Uông Bí | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Phường Bắc Sơn | Thành phố Uông Bí | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Phường Nam Khê | Thành phố Uông Bí | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Vàng Danh gồm những phường cũ nào?
Toàn bộ phường Vàng Danh, Bắc Sơn, Nam Khê và phần còn lại của phường Trưng Vương thuộc thành phố Uông Bí cũ.
Tên Vàng Danh có nghĩa là gì?
Phường giữ tên phường Vàng Danh cũ, tên vùng mỏ có từ thời Pháp. Âm “vàng” không có chữ Hán Việt; nghĩa gốc của địa danh chưa được giải thích thống nhất.
Phường Vàng Danh được lập lần đầu khi nào?
Ngày 10/9/1981, trên cơ sở thị trấn Vàng Danh cũ thuộc thị xã Uông Bí.
Trụ sở phường Vàng Danh mới ở đâu?
Theo phương án sắp xếp, trụ sở đặt tại trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND phường Trưng Vương cũ.
Kinh tế chính của phường Vàng Danh là gì?
Khai thác than hầm lò và các dịch vụ phụ trợ ngành than; phía nam phát triển thương mại – dịch vụ đô thị.
Cùng Thành phố Uông Bí trước đây
- Phường Uông Bí 59.866
- Phường Yên Tử 38.932
← Toàn bộ 54 xã, phường của Quảng Ninh Tra tên xã cũ → mới