Lục Hồn là xã vùng cao biên giới thuộc Thành phố Quảng Ninh, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 từ hai xã Đồng Tâm và Lục Hồn của huyện Bình Liêu cũ. Xã rộng 107,13 km², dân số 9.974 người, nổi tiếng với đình Lục Nà, ruộng bậc thang và núi Cao Xiêm.
Tổng quan
Xã Lục Hồn là một trong ba xã kế thừa vùng Bình Liêu cũ ở phía bắc Thành phố Quảng Ninh, có đường biên giới với Trung Quốc ở phía bắc và tây bắc. Xã hình thành ngày 1/7/2025 (khi Quảng Ninh còn là tỉnh) từ việc nhập trọn hai xã Đồng Tâm và Lục Hồn; từ 1/9/2026 thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Theo số liệu sắp xếp, xã rộng 107,13 km², dân số 9.974 người, mật độ khoảng 93 người/km². Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã đặt tại trụ sở cũ của xã Lục Hồn.
Nếu Hoành Mô là xã của cửa khẩu thì Lục Hồn là xã của nông nghiệp ruộng bậc thang và văn hóa Tày: nơi có đình Lục Nà — ngôi đình duy nhất của vùng Bình Liêu có lễ hội đình — và mùa lúa chín cuối thu đã được dựng thành Hội mùa vàng. Từ địa bàn xã, khách leo lên núi Cao Xiêm, nóc nhà của Quảng Ninh.
Tên gọi và ý nghĩa
Xã mới giữ tên Lục Hồn của xã cũ, một trong bảy xã của huyện Bình Liêu từ năm 1945. Tên Đồng Tâm của xã kia không được giữ — đây là tên đặt theo khẩu hiệu thời mới (“đồng tâm” là cùng một lòng), lại trùng với nhiều xã ở các tỉnh khác (sau năm 2025 vẫn còn xã Đồng Tâm ở Đồng Nai, Tuyên Quang), trong khi Lục Hồn là tên riêng, gắn với đình Lục Nà và vùng ruộng của người Tày.
Nghĩa chữ
Về mặt âm Hán Việt, “lục” có thể là 六 (sáu), 陸 (đất liền) hay 綠 (xanh lục); “hồn” thường gặp nhất là 魂 (hồn vía) — xem trang âm lục trên Wiki Ngôn Ngữ. Nhưng chưa tra được tài liệu nào xác định chữ Hán của tên xã. Lục Hồn, Lục Nà, Bản Cáu… nằm trong lớp địa danh của người Tày vùng Đông Bắc; trong lớp này, chữ được dùng để ghi âm tiếng Tày nhiều hơn để mang nghĩa Hán. Ví dụ chắc chắn là yếu tố nà trong Lục Nà — tiếng Tày – Nùng nghĩa là ruộng nước, rất phổ biến trong tên làng (như Nà Pá — tên cũ của xã Quảng An ở vùng Đầm Hà). Vì vậy không nên dịch Lục Hồn thành “sáu hồn” hay “hồn xanh”; nghĩa gốc của tên hiện chưa có giải thích thống nhất.
Trùng tên
Lục Hồn là tên duy nhất trong danh mục đơn vị hành chính cấp xã cả nước sau năm 2025.
Địa lý
Lục Hồn giáp Trung Quốc ở phía bắc và tây bắc; phía đông bắc giáp xã Hoành Mô; phía đông nam và phía tây giáp xã Bình Liêu. Địa hình là núi cao xen thung lũng, sườn núi được khai phá thành ruộng bậc thang — cảnh quan hiếm thấy ở Quảng Ninh, vốn quen với hình ảnh biển và mỏ than.
Từ địa bàn xã có đường leo lên núi Cao Xiêm (còn gọi là Khau Khoang hay Cột Cờ), được coi là ngọn núi cao nhất Quảng Ninh; độ cao ghi khác nhau giữa các tài liệu, khoảng 1.430–1.470 m. Đường lên đỉnh là tuyến leo núi được du lịch cộng đồng của xã khai thác.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh, có năm có băng giá trên cao. Đất nông nghiệp tập trung ở thung lũng và ruộng bậc thang; phần lớn diện tích còn lại là rừng và đất rừng trồng hồi, quế.
Lịch sử
Vùng Lục Hồn – Đồng Tâm thời phong kiến thuộc châu Tiên Yên, phủ Hải Ninh; từ năm 1919 thuộc châu Bình Liêu. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Lục Hồn và Đồng Tâm là hai trong bảy xã của huyện Bình Liêu. Đình Lục Nà trên đất Lục Hồn từng là nơi đặt trụ sở Ủy ban Hành chính huyện năm 1946 — dấu mốc khiến ngôi đình vừa là nơi thờ tự vừa là di tích lịch sử của cả huyện.
Cuối năm 1950, vùng biên Bình Liêu được giải phóng trong Chiến dịch Biên giới. Năm 1963 thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ngôi đình cũ bị phá bỏ năm 1968; năm 2005 địa điểm đình được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh (Quyết định 2331/QĐ-UB ngày 18/7/2005), và đình được dựng lại từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2010.
Ngày 16/6/2025, Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 sắp xếp toàn bộ diện tích, dân số xã Đồng Tâm và xã Lục Hồn thành xã Lục Hồn, hoạt động từ 1/7/2025. Từ 1/9/2026, theo Nghị quyết 36/2026/QH16, xã thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Dân cư – xã hội
Xã có 9.974 người. Tuyệt đại đa số là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó người Tày là cộng đồng chính, sống thành bản ven ruộng thung lũng; người Dao, Sán Chỉ ở các thôn cao hơn. Đây là sự phân bố quen thuộc của vùng Bình Liêu cũ, nơi Tày chiếm khoảng 58%, Dao khoảng 26%, Sán Chỉ khoảng 15% dân số.
Người Tày ở đây còn giữ nhà sàn, trang phục áo chàm, thắt lưng xanh, vòng bạc; hát then với cây đàn tính là sinh hoạt văn nghệ thường gặp trong lễ tết. Tín ngưỡng gắn với thờ tổ tiên, thờ thành hoàng ở đình và các lễ nông nghiệp như lễ mừng cơm mới. Mạng lưới trường học, trạm y tế của xã phục vụ các thôn; các dịch vụ cấp cao hơn ở khu trung tâm xã Bình Liêu lân cận.
Kinh tế
Nông nghiệp là nền: lúa nước trên ruộng bậc thang và thung lũng, ngô, rau màu; trồng rừng hồi, quế và cây dong riềng làm miến — những sản phẩm chủ lực chung của vùng Bình Liêu. Chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hộ.
Du lịch cộng đồng là hướng mới: homestay nhà sàn, chương trình “ăn cùng bản, ở cùng dân, làm cùng nghề”, cho khách gặt lúa, giã cốm, đồ xôi, học múa sạp, nghe kể chuyện dân gian, leo núi Cao Xiêm. Hội mùa vàng Lục Hồn năm 2025 khai mạc vào tháng 11; chính quyền xã đặt mục tiêu đón khoảng 35.000 lượt khách trong năm. Đặc sản phục vụ khách có khâu nhục, miến dong, xôi nếp, cốm, cá suối.
Văn hóa
Đình Lục Nà thờ Hoàng Cần, người Bình Liêu được dân suy tôn làm thành hoàng làng vì công dẫn dân làng đánh giặc ngoại xâm. Lễ hội đình diễn ra từ ngày 15 đến 17 tháng Giêng âm lịch: phần lễ rước sắc phong từ sân đình quanh thôn Bản Cáu rồi trở về, gióng trống khai hội, tế thần; phần hội có đẩy gậy, đánh quay, kéo co, ném còn, thi hát then – đàn tính, hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ và hát sán cố. Đình Lục Nà được giới thiệu là lễ hội đình duy nhất ở Bình Liêu.
Cuối năm, lễ mừng cơm mới của người Tày được làm ở đình và trong nhiều gia đình: rước “hồn lúa” từ ruộng về nhà, dâng xôi nếp, cốm, gà, cá suối. Lễ mừng cơm mới của người Tày Quảng Ninh, trong đó có Bình Liêu, được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024 (Quyết định 3989/QĐ-BVHTTDL).
Du lịch
Ba mùa đáng đi: tháng Giêng có lễ hội đình Lục Nà; mùa hè ruộng bậc thang xanh; cuối thu (tháng 10–11) lúa chín và Hội mùa vàng. Tuyến leo núi Cao Xiêm thuộc loại khó, nên đi theo nhóm có người dẫn đường địa phương; vùng giáp biên phải tuân thủ quy định khu vực biên giới.
Bản đồ Xã Lục Hồn
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Lục Hồn được lập từ 2 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Đồng Tâm | Huyện Bình Liêu | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Lục Hồn | Huyện Bình Liêu | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Lục Hồn gồm những xã cũ nào?
Toàn bộ xã Đồng Tâm và xã Lục Hồn của huyện Bình Liêu cũ, theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15.
Tên Lục Hồn có nghĩa là gì?
Đây là tên xã cũ, thuộc lớp địa danh của người Tày. Chưa có tài liệu xác định chữ Hán hay nghĩa gốc, nên không nên dịch theo từng chữ Hán Việt.
Đình Lục Nà thờ ai?
Đình thờ Hoàng Cần, người được dân suy tôn làm thành hoàng vì dẫn dân làng đánh giặc. Đình là di tích cấp tỉnh từ năm 2005; lễ hội tổ chức 15–17 tháng Giêng âm lịch.
Núi Cao Xiêm cao bao nhiêu?
Cao Xiêm được coi là ngọn núi cao nhất Quảng Ninh; các tài liệu ghi độ cao khác nhau, khoảng 1.430 đến 1.470 m.
Xã Lục Hồn rộng và đông dân thế nào?
Xã rộng 107,13 km², dân số 9.974 người, mật độ khoảng 93 người/km².
Cùng Huyện Bình Liêu trước đây
- Xã Bình Liêu 16.220
- Xã Hoành Mô 9.014
- Xã Tiên Yên 22.164
← Toàn bộ 54 xã, phường của Quảng Ninh Tra tên xã cũ → mới