Bình Liêu là xã vùng cao biên giới thuộc Thành phố Quảng Ninh, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở thị trấn Bình Liêu, xã Húc Động và xã Vô Ngại của huyện Bình Liêu cũ. Xã rộng 225,29 km², dân số 16.220 người, là trung tâm hành chính cũ của huyện.
Tổng quan
Xã Bình Liêu là đơn vị hành chính cấp xã ở vùng núi biên giới phía bắc Thành phố Quảng Ninh. Xã hình thành ngày 1/7/2025, khi Quảng Ninh còn là tỉnh, theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; từ ngày 1/9/2026, khi tỉnh Quảng Ninh được tổ chức thành thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết 36/2026/QH16, xã thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Theo số liệu sắp xếp, xã rộng 225,29 km² và có 16.220 người, mật độ khoảng 72 người/km². Đây là đơn vị đông dân và rộng nhất trong ba xã kế thừa địa bàn huyện Bình Liêu cũ (hai xã còn lại là Hoành Mô và Lục Hồn). Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã đặt tại trụ sở cũ của huyện Bình Liêu, tức khu trung tâm thị trấn cũ.
Ba nét nhận diện của xã: một thị trấn miền núi nằm bên dòng sông Tiên Yên, từng là huyện lỵ suốt gần nửa thế kỷ; vùng người Sán Chỉ ở Húc Động với lối hát giao duyên Soóng Cọ; và các tuyến núi, thác, ruộng bậc thang khiến cái tên Bình Liêu trở thành điểm đến quen thuộc của dân leo núi miền Bắc.
Tên gọi và ý nghĩa
Xã mới giữ tên Bình Liêu — tên của thị trấn huyện lỵ cũ và của cả huyện Bình Liêu đã tồn tại từ năm 1919 đến ngày 30/6/2025. Lựa chọn này giữ lại một địa danh có bề dày hơn một thế kỷ trên bản đồ hành chính, và đặt nó đúng nơi từng là trung tâm của vùng.
Từ tổng Bình Liêu đến xã Bình Liêu
Thời phong kiến, vùng đất Bình Liêu ngày nay gồm hai tổng là Bình Liêu và Kiến Duyên, thuộc châu Tiên Yên, phủ Hải Ninh, tỉnh Quảng Yên. Ngày 26/12/1919, chính quyền thuộc địa tách hai tổng này khỏi châu Tiên Yên để lập châu Bình Liêu, lấy tên tổng Bình Liêu đặt cho cả châu. Sau Cách mạng Tháng Tám, châu đổi thành huyện. Năm 1977, thị trấn Bình Liêu được lập làm huyện lỵ trên một phần đất xã Tình Húc; năm 2020 toàn bộ xã Tình Húc nhập vào thị trấn. Đến năm 2025, khi cấp huyện kết thúc hoạt động, tên Bình Liêu được chuyển cho xã mới. Như vậy tên gọi đi theo vòng: tổng → châu → huyện → thị trấn → xã.
Nghĩa chữ
Chữ Bình thông dụng nhất trong địa danh là 平, nghĩa gốc là bằng phẳng, mở rộng ra là yên ổn, hòa bình — một chữ rất hay gặp trong tên tổng, xã thời Nguyễn. Chữ Liêu thì khó hơn: âm Hán Việt “liêu” ứng với nhiều chữ khác nghĩa (xem trang âm liêu trên Wiki Ngôn Ngữ), và các nguồn tra được không ghi rõ tổng Bình Liêu được viết bằng chữ nào. Vì vậy chỉ nên hiểu chắc phần “Bình” là yên bình; còn “Liêu” có thể là chữ Hán mang nghĩa riêng, cũng có thể là chữ chọn để ghi âm một địa danh bản địa của người Tày vùng này. Chưa có tài liệu giải thích thống nhất.
Trùng tên
Trong danh mục đơn vị hành chính sau ngày 1/7/2025, Bình Liêu là tên duy nhất trên cả nước, nên không lẫn với nơi khác.
Địa lý
Xã nằm ở trung tâm vùng Bình Liêu cũ, thuộc cánh cung núi Đông Triều – Móng Cái. Theo các mô tả ranh giới hiện có, phía bắc xã chạm tới tỉnh Lạng Sơn và đường biên giới Việt – Trung; phía đông giáp các xã Lục Hồn, Hoành Mô và Đường Hoa; phía nam giáp Tiên Yên, Đông Ngũ và Quảng Tân; phía tây giáp Điền Xá.
Địa hình chủ yếu là đồi núi dốc, xen những thung lũng hẹp dọc sông suối. Sông Tiên Yên — bắt nguồn từ vùng núi Cao Ba Lanh, chảy qua Hoành Mô rồi xuôi về phía nam — đi qua khu trung tâm thị trấn cũ; dọc thung lũng sông là nơi tập trung dân cư, ruộng nước và tuyến Quốc lộ 18C. Vùng huyện cũ có rừng che phủ khoảng ba phần tư diện tích tự nhiên, phần lớn là rừng trồng hồi, quế và rừng phòng hộ đầu nguồn.
Khí hậu là nhiệt đới gió mùa vùng núi: mùa hè mưa nhiều, mùa đông lạnh hơn hẳn vùng ven biển Quảng Ninh, có năm xuất hiện sương muối, băng giá trên các đỉnh núi. Phần Húc Động cũ có nhiều khe suối đổ dốc tạo thác, nổi bật là thác Khe Vằn ba tầng, cách trung tâm thị trấn cũ khoảng 12 km về phía đông nam.
Lịch sử
Thời phong kiến, đất này thuộc hai tổng Bình Liêu và Kiến Duyên của châu Tiên Yên. Năm 1883 thực dân Pháp chiếm tỉnh Quảng Yên rồi lần lượt đặt ách cai trị lên vùng biên giới. Ngày 26/12/1919, châu Bình Liêu được lập, gồm bảy xã. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, châu thành huyện Bình Liêu với bảy xã: Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc, Vô Ngại và Húc Động — trong đó ba xã Tình Húc, Húc Động và Vô Ngại nay nằm trọn hoặc chủ yếu trong xã Bình Liêu.
Trong kháng chiến chống Pháp, Bình Liêu được giải phóng hoàn toàn ngày 25/12/1950, sau trận đánh kéo dài từ đêm 24 đến chiều 25/12 trong Chiến dịch Biên giới. Tháng 10/1963, tỉnh Hải Ninh hợp nhất với khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh, Bình Liêu là một huyện của tỉnh mới. Thời kháng chiến chống Mỹ, hơn 2.200 thanh niên trong huyện lên đường nhập ngũ.
Ngày 23/2/1977, Quyết định 614-VP18 thành lập thị trấn Bình Liêu làm huyện lỵ, tách từ xã Tình Húc. Theo Nghị quyết 837/NQ-UBTVQH14, từ 1/1/2020 toàn bộ xã Tình Húc nhập vào thị trấn. Ngày 16/6/2025, Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 sắp xếp thị trấn Bình Liêu, xã Húc Động và xã Vô Ngại thành xã Bình Liêu, hoạt động từ ngày 1/7/2025. Lưu ý: một số tài liệu (Wikipedia tiếng Việt, mô tả sắp xếp trên bản đồ hành chính) ghi chỉ một phần xã Vô Ngại nhập vào xã Bình Liêu; số liệu diện tích, dân số ở bài này lấy theo dữ liệu sắp xếp chính thức. Từ 1/9/2026, xã thuộc Thành phố Quảng Ninh.
Dân cư – xã hội
Xã có 16.220 người trên 225,29 km². Dân cư tập trung dày ở khu trung tâm thị trấn cũ dọc sông Tiên Yên; các thôn ở Húc Động, Vô Ngại thưa hơn, nằm rải theo thung lũng và sườn đồi.
Bình Liêu cũ là một trong những vùng có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao nhất Quảng Ninh, trên 96% dân số, gồm ba dân tộc chính: Tày (khoảng 58%), Dao (khoảng 26%) và Sán Chỉ (khoảng 15%), cùng một số người Kinh, Hoa. Riêng xã Húc Động cũ là nơi người Sán Chỉ đông nhất huyện, chiếm khoảng 82% dân số xã. Người Tày thường sống ở thung lũng, làm ruộng nước; người Dao, Sán Chỉ ở lưng chừng núi, làm nương, trồng rừng.
Đời sống tín ngưỡng gắn với thờ cúng tổ tiên, thần bản địa và các nghi lễ vòng đời riêng của từng dân tộc, như lễ cấp sắc của người Dao, lễ mừng cơm mới của người Tày. Khu trung tâm cũ tập trung các cơ sở giáo dục, y tế phục vụ cả vùng, bao gồm trường học các cấp và cơ sở y tế tuyến cơ sở. Chợ phiên họp ngày thứ Bảy, Chủ nhật ở trung tâm là nơi đồng bào các thôn xuống mua bán lá tắm, dược liệu, mật ong, măng rừng.
Kinh tế
Kinh tế vùng Bình Liêu chuyển dịch mạnh sang dịch vụ, du lịch trong hai thập niên gần đây. Theo số liệu của huyện năm 2019, dịch vụ – du lịch chiếm khoảng 51,6% cơ cấu kinh tế, công nghiệp – xây dựng 19,15%, nông lâm thủy sản 29,25% (năm 1986 nông lâm nghiệp còn trên 60%).
Các sản phẩm chủ lực của vùng là hồi, quế, cây sở lấy dầu, miến dong và mật ong. Miến dong Bình Liêu làm từ củ dong riềng trồng trên nương, phơi trên giàn tre ngoài trời vào mùa khô cuối năm, là đặc sản quen thuộc của vùng. Lúa nước và ngô trồng ở các thung lũng; chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hộ.
Khu trung tâm cũ là đầu mối thương mại, dịch vụ của cả vùng Bình Liêu, có chợ, cơ sở lưu trú, nhà hàng phục vụ khách du lịch lên các cột mốc biên giới. Du lịch cộng đồng, homestay phát triển ở các bản người Sán Chỉ, Tày như bản Ngàn Chuồng. Năm 2024, toàn huyện Bình Liêu đón hơn 220.000 lượt khách, doanh thu gần 200 tỷ đồng.
Văn hóa
Di sản nổi bật nhất trên địa bàn là hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ, hình thức hát đối nam nữ không dùng nhạc cụ, dựa vào lời ca và giai điệu ngân dài, nội dung kể chuyện lao động, thiên nhiên và tình yêu đôi lứa; có lệ không hát đối với người cùng dòng họ. Nghệ thuật này được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 3421/QĐ-BVHTTDL. Hội Soóng Cọ thường tổ chức ở Húc Động vào mùa xuân, là một trong bốn lễ hội lớn của vùng Bình Liêu.
Người Tày có hát then, đàn tính và lễ mừng cơm mới (di sản phi vật thể quốc gia năm 2024, ghi danh cho nhiều địa phương Quảng Ninh, trong đó có Bình Liêu); người Dao có lễ cấp sắc. Ẩm thực địa phương có xôi bảy màu, bánh coóc mò, bánh gật gù, bánh ngải, cá suối nướng, măng rừng và các món từ miến dong.
Hằng năm, Tuần Văn hóa – Du lịch Bình Liêu được tổ chức ở khu trung tâm, gom các hoạt động trình diễn văn nghệ, trang phục, thi đấu thể thao dân tộc của cả vùng.
Du lịch
Xã Bình Liêu là điểm xuất phát của hầu hết các hành trình khám phá vùng biên giới: từ trung tâm, theo Quốc lộ 18C và đường tuần tra có thể đi tới các cột mốc 1300, 1302, 1305 (cung “sống lưng khủng long”, thuộc vùng Hoành Mô) hay 1327. Trên địa bàn xã có thác Khe Vằn ở Húc Động, ba tầng nước, từng là chỗ hẹn hò của trai gái Sán Chỉ; mùa hè thác đổ mạnh nhất. Mùa xuân có hội Soóng Cọ, mùa thu có cỏ lau trên các đồi ven đường biên, cuối năm có mùa hoa sở và mùa phơi miến.
Giao thông
Quốc lộ 18C (dài khoảng 129 km, từ Tiên Yên đến Móng Cái) là trục xương sống, chạy dọc sông Tiên Yên qua trung tâm xã rồi lên cửa khẩu Hoành Mô. Từ trung tâm đi về phía nam theo 18C khoảng vài chục cây số là tới xã Tiên Yên, nơi giao với Quốc lộ 18 và cao tốc Vân Đồn – Móng Cái. Khoảng cách tới khu trung tâm hành chính Thành phố Quảng Ninh ở Hạ Long vào khoảng trên 100 km.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi theo dạng: thôn/khu …, xã Bình Liêu, Thành phố Quảng Ninh. Thủ tục hành chính cấp xã giải quyết tại Trung tâm phục vụ hành chính công của xã, đặt ở khu trụ sở cũ của huyện Bình Liêu. Người từng có địa chỉ ở thị trấn Bình Liêu, xã Húc Động, xã Vô Ngại nay ghi xã Bình Liêu.
Bản đồ Xã Bình Liêu
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Bình Liêu được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Húc Động | Huyện Bình Liêu | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Thị trấn Bình Liêu | Huyện Bình Liêu | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Vô Ngại | Huyện Bình Liêu | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Bình Liêu gồm những đơn vị cũ nào?
Theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15, xã Bình Liêu được lập từ thị trấn Bình Liêu, xã Húc Động và xã Vô Ngại của huyện Bình Liêu cũ (một số tài liệu ghi chỉ một phần xã Vô Ngại).
Tên Bình Liêu có từ bao giờ?
Từ thời phong kiến đã có tổng Bình Liêu thuộc châu Tiên Yên. Năm 1919 tên này được dùng đặt cho châu Bình Liêu, sau thành huyện, thị trấn (1977) và nay là xã. Chữ Bình (平) nghĩa là yên ổn; chữ Liêu chưa xác định được chữ Hán.
Xã Bình Liêu rộng bao nhiêu, bao nhiêu dân?
Xã rộng 225,29 km², dân số 16.220 người, mật độ khoảng 72 người/km².
Người dân xã Bình Liêu thuộc những dân tộc nào?
Vùng Bình Liêu cũ có trên 96% là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu Tày, Dao và Sán Chỉ; riêng Húc Động cũ người Sán Chỉ chiếm khoảng 82%.
Ở xã Bình Liêu có điểm tham quan nào?
Thác Khe Vằn ở Húc Động, chợ phiên cuối tuần ở trung tâm, các bản du lịch cộng đồng; xã cũng là nơi xuất phát lên các cột mốc biên giới 1300, 1305 qua Quốc lộ 18C.
Cùng Huyện Bình Liêu trước đây
- Xã Hoành Mô 9.014
- Xã Lục Hồn 9.974
- Xã Tiên Yên 22.164
← Toàn bộ 54 xã, phường của Quảng Ninh Tra tên xã cũ → mới