Tuy An Tây là xã thuộc tỉnh Đắk Lắk, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã An Nghiệp, An Xuân và An Lĩnh của huyện Tuy An (tỉnh Phú Yên cũ). Diện tích 136,2 km², dân số 12.913 người.
Tổng quan
Tuy An Tây là xã bán sơn địa ở phía tây vùng Tuy An cũ, nơi đồng bằng ven biển Phú Yên vươn lên vùng đồi giáp cao nguyên Vân Hòa. Từ 1/7/2025 xã thuộc tỉnh Đắk Lắk. Trong năm xã kế thừa huyện Tuy An, đây là xã rộng nhất (136,2 km²) nhưng ít dân nhất (12.913 người, mật độ khoảng 95 người/km²).
Vùng này được biết đến qua các vực, thác nước giữa núi và những khối đá bazan dạng cột tương tự Gành Đá Đĩa, cùng truyền thống hội đua ngựa đầu xuân ở An Xuân. Trụ sở xã đặt tại trụ sở UBND xã An Nghiệp cũ.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên theo vùng và phương hướng. Huyện Tuy An được chia thành năm xã: bốn xã mang tên Tuy An kèm một hướng (Bắc, Đông, Tây, Nam) và xã Ô Loan. Tuy An Tây là phần phía tây — gồm ba xã An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh. Cách đặt tên này giữ tên huyện cũ thay vì chọn tên một xã thành phần.
Nghĩa chữ Tuy An. “Tuy An” là tên Hán Việt, thường viết 綏安: tuy 綏 là vỗ về, làm cho yên; an 安 là yên ổn. Cả tên mang nghĩa “vỗ yên, làm cho yên ổn”. Hậu tố tây là chữ 西.
Lịch sử tên. Theo Wikipedia, từ năm 1611 đến 1899 vùng Tuy An thuộc huyện Đồng Xuân; năm 1899 lập phủ Tuy An gồm năm tổng An Sơn, An Hải, An Đức, An Vinh, An Phú, phủ lỵ ở Long Uyên. Năm 1945 phủ đổi tên thành Công Ái, năm 1947 thành huyện Tuy An. Chữ “An” đầu tên các xã cũ của Tuy An (An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh…) cùng một dòng với tên các tổng ấy.
Trùng tên: không có đơn vị nào khác tên Tuy An Tây.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, xã giáp xã Đồng Xuân ở phía bắc, xã Tuy An Nam ở phía nam, xã Tuy An Bắc và xã Ô Loan ở phía đông, xã Xuân Phước và xã Vân Hòa ở phía tây.
Địa hình chuyển tiếp từ đồng bằng lên đồi núi, thấp dần về phía đông. Theo các nghiên cứu được Wikipedia dẫn, đá bazan ven biển Tuy An hình thành từ dung nham phun trào của vùng núi lửa phía đông tỉnh (cao nguyên Vân Hòa ngày nay) cách đây hàng triệu năm; dung nham nguội đi, đông cứng và nứt thành các cột lăng trụ. Bazan từ vùng núi lửa cổ của cao nguyên Vân Hòa lộ ra ở nhiều nơi: bài Wikipedia về Gành Đá Đĩa liệt kê các vực Trà Cơi, Hố Tròn, Song, Hòm ở Tuy An Tây là những điểm có đá bazan dạng cột tương tự.
Lịch sử
Vùng Tuy An qua các thời kỳ
Theo Wikipedia, Tuy An là một phần huyện Đồng Xuân từ khi chúa Nguyễn lập Phú Yên năm 1611. Năm 1899 phủ Tuy An ra đời; sau Cách mạng tháng Tám, ngày 7/9/1945 phủ đổi tên Công Ái, năm 1947 thành huyện Tuy An. Năm 1954, chính quyền Sài Gòn đổi huyện thành quận Tuy An với 14 xã; sau tháng 4/1975 trở lại là huyện. Năm 1976 Tuy An thuộc tỉnh Phú Khánh; năm 1977 huyện nhập với Đồng Xuân và bốn xã của huyện Tây Sơn thành huyện Xuân An, đến năm 1978 lại chia ra.
Ba xã An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh
Khi huyện Tuy An được tái lập năm 1978 sau thời gian nhập vào huyện Xuân An, huyện có 13 xã, trong đó có An Lĩnh, An Nghiệp và An Xuân. Huyện Tuy An thuộc tỉnh Phú Khánh (1976–1989), rồi tỉnh Phú Yên tái lập.
Các đơn vị phía đông của huyện được chia tách nhiều lần — năm 1979 lập thị trấn Chí Thạnh; năm 1981 lập xã An Cư, chia An Ninh thành An Ninh Đông và An Ninh Tây, tách An Phú khỏi An Chấn; năm 2020 nhập An Hải với An Hòa — trong khi ba xã phía tây vẫn giữ tên như danh sách năm 1978.
Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 sắp xếp toàn bộ An Nghiệp, An Xuân, An Lĩnh thành xã Tuy An Tây, hiệu lực 1/7/2025, cùng ngày huyện Tuy An kết thúc hoạt động và tỉnh Phú Yên nhập vào Đắk Lắk. Theo Wikipedia, 16 thôn ban đầu được sắp xếp lại năm 2026; tên hai xã cũ được giữ lại làm tên thôn: thôn An Lĩnh và thôn An Xuân.
Dân cư và xã hội
Dân số 12.913 người, sống trong các thôn như Định Phong, Phong Thái, Quang Thuận, Thế Hiên, Trung Lương, Xuân Thành, An Lĩnh, An Xuân. Đây là vùng nông thôn trung du, dân cư phân bố dọc các thung lũng và đường liên xã.
Vùng đất này có nhiều người được Wikipedia ghi nhận: nhà thơ Nguyễn Mỹ (1935–1971), nhạc sĩ Nhật Lai (1931–1987, tác giả “Hà Tây quê lụa”, được truy tặng Giải thưởng Nhà nước), ông Phạm Ngọc Chi (Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên 2006–2010).
Kinh tế
Nông nghiệp là chủ đạo: lúa ở các cánh đồng nhỏ ven suối, mía, sắn, bắp trên đất đồi. Tỉnh Phú Yên cũ ghi Tuy An là một trong các địa phương trồng nhiều lúa, hoa màu và mía. Chăn nuôi bò và trồng rừng keo phổ biến ở vùng giáp núi.
Cảnh quan vực, thác và đá bazan là nguồn lực cho du lịch sinh thái quy mô nhỏ, gắn với tuyến tham quan Gành Đá Đĩa – đầm Ô Loan của vùng Tuy An.
Văn hóa
Lễ hội tiêu biểu là hội đua ngựa ở An Xuân, được tỉnh Phú Yên cũ ghi lịch vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch. Cũng như khắp vùng nông thôn Phú Yên, hội bài chòi là sinh hoạt quen thuộc dịp Tết Nguyên đán.
Trên địa bàn xã An Xuân cũ có địa đạo Gò Thì Thùng, được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1996.
Ẩm thực theo khẩu vị chung của Tuy An: bánh tráng, bánh xèo, các món cá đầm, cá suối.
Bản đồ Xã Tuy An Tây
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Tuy An Tây được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1660/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã An Xuân | Huyện Tuy An | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
| Xã An Lĩnh | Huyện Tuy An | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
| Xã An Nghiệp | Huyện Tuy An | Tỉnh Phú Yên | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Tuy An Tây gồm những xã cũ nào?
Ba xã An Nghiệp, An Xuân và An Lĩnh thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên cũ.
Tên Tuy An có nghĩa là gì?
Chữ Hán 綏安: tuy là vỗ về, làm cho yên; an là yên ổn. Tên có từ thời phủ Tuy An (1899) và huyện Tuy An.
Diện tích, dân số xã Tuy An Tây?
136,2 km², 12.913 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Lễ hội nổi bật ở Tuy An Tây là gì?
Hội đua ngựa An Xuân, tổ chức mồng 9 tháng Giêng âm lịch.
Huyện Tuy An cũ nay gồm những xã nào?
Năm xã: Tuy An Bắc, Tuy An Đông, Tuy An Tây, Tuy An Nam và Ô Loan.
Cùng Huyện Tuy An trước đây
- Xã Ô Loan 40.278
- Xã Tuy An Bắc 26.174
- Xã Tuy An Đông 40.108
- Xã Tuy An Nam 29.805
← Toàn bộ 102 xã, phường của Đắk Lắk Tra tên xã cũ → mới