Mường Tè là xã thuộc tỉnh Lai Châu, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở hai xã Nậm Khao và Mường Tè của huyện Mường Tè cũ; xã không bao gồm khu thị trấn Mường Tè (nay thuộc xã Bum Tở). Diện tích 292,0 km², dân số 6.364 người.
Tổng quan
Cái tên Mường Tè từng phủ cả một huyện biên giới rộng hàng nghìn km², nay thuộc về một xã: xã Mường Tè của tỉnh Lai Châu, gồm xã Mường Tè cũ và xã Nậm Khao. Trụ sở xã đặt tại bản Bó. Cần lưu ý: khu thị trấn Mường Tè — huyện lỵ cũ — không nằm trong xã này mà thuộc xã Bum Tở.
Xã rộng 292,0 km², dân số 6.364 người, mật độ khoảng 22 người/km². Theo số liệu đề án sắp xếp, xã Mường Tè cũ có 184,14 km² và 4.546 người, xã Nậm Khao 107,86 km² và 1.818 người. Xã có 11 bản: Bó, Giẳng, Huổi Tát, Láng Phiếu, Mường Tè, Nậm Củm, Nậm Củm 2, Nậm Hản, Nậm Phìn, Pắc Ma và Xám Láng. Điểm nhận diện văn hóa là cộng đồng người Cống ở vùng Nậm Khao.
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: xã mới giữ tên xã Mường Tè cũ, cũng là tên của huyện Mường Tè (1945–2025). Nhờ vậy, tên gọi lịch sử của cả vùng thượng nguồn sông Đà vẫn còn trên bản đồ hành chính sau khi bỏ cấp huyện.
Tên gốc tiếng Thái, không phải Hán Việt. Tra từ điển chữ Hán Nôm, cả “mường” lẫn “tè” đều không có chữ Hán Việt. “Mường” là từ chung của các ngôn ngữ Tày – Thái (tiếng Thái Lan viết mueang), chỉ một vùng cư trú gồm trung tâm và các bản phụ thuộc — đơn vị “bản – mường” truyền thống ở Tây Bắc. “Tè” là phần tên riêng của mường; chưa tìm được nguồn ngôn ngữ học giải thích nghĩa, nên không nên suy đoán.
Lịch sử tên: theo Wikipedia tiếng Việt dẫn ghi chép của Lê Quý Đôn, Mường Tè là tên bản địa của châu Tuy Phụ thuộc xứ Hưng Hóa thời Lê. Từ năm 1945, Mường Tè là tên huyện; năm 1987 có thêm thị trấn Mường Tè làm huyện lỵ. Sau 1/7/2025, chỉ còn xã Mường Tè mang tên này.
Tên Nậm Khao: “Nậm” là chữ đầu tên sông suối nhỏ ở vùng người Thái (theo Nguyễn Khắc Ngữ, 1963); phần “Khao” chưa rõ nghĩa trong ngữ cảnh này. Trùng tên: tỉnh Sơn La từng có xã Mường Tè (huyện Vân Hồ), nay đã nhập vào xã Song Khủa, nên hiện cả nước chỉ còn một xã Mường Tè.
Địa lý
Xã nằm ở phần tây vùng Mường Tè cũ: phía bắc giáp Pa Ủ, phía nam giáp Tà Tổng, phía đông giáp Bum Tở, phía tây giáp Thu Lũm và Mù Cả.
Địa hình núi cao, nhiều suối nhánh của sông Đà như hệ suối Nậm Củm, Nậm Hản (tên bản lấy theo suối). Vùng huyện cũ có sông Đà, Nậm Ma, Nậm Cúm, Nậm Nhé là các dòng chính; đất rừng chiếm khoảng 90% diện tích. Các bản người Thái thường ở thung lũng ven suối, bản người Cống, Hà Nhì ở sườn núi cao hơn.
Lịch sử
Vùng đất Mường Tè đi vào sử Việt từ thời Lê sơ (thế kỷ XV) dưới tên châu Tuy Phụ. Thời Pháp thuộc, vùng này thuộc tỉnh Lai Châu, chịu ảnh hưởng của hệ thống các mường Thái. Huyện Mường Tè được lập năm 1945; sau năm 1954 huyện có 17 xã.
- 1987 — Lập thị trấn Mường Tè từ một phần xã Bum Tở.
- 2002, 2012 — Huyện tách vùng phía tây lập huyện Mường Nhé, rồi tách vùng phía đông lập huyện Nậm Nhùn; huyện còn 14 đơn vị cấp xã.
- 16/6/2025 — Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15 sắp xếp toàn bộ xã Nậm Khao và xã Mường Tè thành xã Mường Tè, hoạt động từ 1/7/2025; theo Đề án 358/ĐA-CP ngày 9/5/2025 của Chính phủ.
Dân cư – xã hội
Dân cư gồm người Thái, Cống, Hà Nhì và các dân tộc khác của vùng Mường Tè. Người Cống — một trong các dân tộc rất ít người (dưới 10.000 người) của Việt Nam — ở huyện Mường Tè cũ có hơn 370 hộ, hơn 1.500 nhân khẩu, sống tập trung ở xã Nậm Khao (số liệu năm 2024). Người Cống còn được gọi là người Xá; hơn 98% số người Cống sống ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Điện Biên.
Xã có trường mầm non và trường liên cấp tiểu học – trung học cơ sở, trạm y tế xã; học sinh trung học phổ thông xuống trung tâm Bum Tở học.
Kinh tế
Nông – lâm nghiệp là chủ đạo: lúa ruộng ở thung lũng, lúa nương, ngô, sắn; chăn nuôi trâu, bò, lợn; khoán bảo vệ rừng đầu nguồn. Xã nằm gần trung tâm cũ nên giao thương với chợ Bum Tở thuận hơn các xã biên giới. Vùng Mường Tè cũ đang phát triển cây sâm Lai Châu, cây dược liệu dưới tán rừng.
Văn hóa
Người Cống ở Nậm Khao giữ các làn điệu hát đối, hát giao duyên, múa cầu mùa, múa xòe, múa sạp trong lễ Tết; nhạc cụ làm từ tre, nứa, gỗ rừng. Năm 2024, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lai Châu phối hợp với huyện Mường Tè tổ chức trình diễn nghệ thuật dân gian, ngữ văn dân gian dân tộc Cống tại xã Nậm Khao, thuộc dự án bảo tồn văn hóa các dân tộc rất ít người. Báo chí cũng ghi nhận lễ hội Tết Ngô của người Cống ở Mường Tè.
Người Thái ở vùng Mường Tè giữ nhà sàn, xòe, các lễ cúng bản; người Hà Nhì có Tết cổ truyền và lễ tháng hai.
Hành chính
Địa chỉ ghi: bản …, xã Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Người ở khu thị trấn Mường Tè cũ không ghi xã Mường Tè mà ghi xã Bum Tở — nhầm lẫn này thường gặp khi điền hồ sơ, gửi hàng.
Bản đồ Xã Mường Tè
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Mường Tè được lập từ 2 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Nậm Khao | Huyện Mường Tè | Tỉnh Lai Châu | toàn bộ |
| Xã Mường Tè | Huyện Mường Tè | Tỉnh Lai Châu | một phần |
Hỏi đáp nhanh
Xã Mường Tè mới gồm những xã cũ nào?
Xã Nậm Khao và xã Mường Tè của huyện Mường Tè cũ, theo Nghị quyết 1670/NQ-UBTVQH15, từ 1/7/2025.
Thị trấn Mường Tè có thuộc xã Mường Tè không?
Không. Thị trấn Mường Tè cũ nhập vào xã Bum Tở cùng xã Can Hồ.
Tên Mường Tè có nghĩa là gì?
“Mường” là từ Tày – Thái chỉ vùng bản mường; “Tè” là tên riêng chưa rõ nghĩa. Theo ghi chép thời Lê, Mường Tè là tên bản địa của châu Tuy Phụ.
Người Cống sống ở đâu tại Lai Châu?
Ở vùng Nậm Khao (nay thuộc xã Mường Tè) với hơn 1.500 người, và vùng Nậm Chà (nay thuộc xã Mường Mô).
Diện tích, dân số xã Mường Tè?
292,0 km² và 6.364 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Cùng Huyện Mường Tè trước đây
- Xã Bum Nưa 7.147
- Xã Bum Tở 11.711
- Xã Hua Bum 5.697
- Xã Mù Cả 3.299
- Xã Pa Ủ 6.084
- Xã Tà Tổng 7.967
- Xã Thu Lũm 5.255
← Toàn bộ 38 xã, phường của Lai Châu Tra tên xã cũ → mới