VietNam34.comViệt Nam 34

Xã Lao Bảo

Xã thuộc Tỉnh Quảng Trị · đơn vị hành chính cấp xã từ 1/7/2025 · trước đây thuộc Huyện Hướng Hóa

Lao Bảo là xã biên giới phía tây tỉnh Quảng Trị, nơi có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo trên Quốc lộ 9 sang Lào; xã lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở thị trấn Lao Bảo và hai xã Tân Long, Tân Thành của huyện Hướng Hóa cũ. Diện tích 83,04 km², dân số 23.459 người.

Tổng quan

Lao Bảo là một xã biên giới của tỉnh Quảng Trị, nằm ở điểm cuối Quốc lộ 9, cách Đông Hà hơn 80 km về phía tây. Bên kia sông Xê Pôn là huyện Sepon (Xê Pôn), tỉnh Savannakhet của Lào. Tên Lao Bảo gắn với ba lớp nghĩa: một cửa khẩu quốc tế trên hành lang kinh tế Đông – Tây, một khu kinh tế – thương mại đặc biệt, và một nhà đày nổi tiếng thời Pháp thuộc.

Xã có diện tích 83,04 km², dân số 23.459 người, mật độ khoảng 283 người/km² — mật độ cao nhất trong các xã vùng Hướng Hóa cũ, vì phần lõi là thị trấn cửa khẩu đông đúc. Trụ sở xã đặt tại trụ sở UBND thị trấn Lao Bảo (cũ).

Ba đơn vị hợp thành đều nằm dọc đoạn cuối Quốc lộ 9: thị trấn Lao Bảo sát biên giới, xã Tân Thành và xã Tân Long ở phía đông, nối sang Tân Lập và Khe Sanh.

Tên gọi và ý nghĩa

Nguồn gốc: xã mới giữ tên thị trấn Lao Bảo, tên đã gắn với cửa khẩu và nhà tù từ hơn một thế kỷ; hai tên Tân Long, Tân Thành không còn là tên đơn vị hành chính.

Tên từ một đồn biên giới. Wikipedia tiếng Việt, dựa trên tư liệu địa phương, chép rằng triều Nguyễn cho đắp một đồn canh ở tổng Làng Hạ — nơi trước đó là dinh Ai Lao lo việc buôn bán và canh giữ biên giới — và đặt tên đồn là “Bảo Trấn Lao”; tên địa danh Lao Bảo được giản lược từ tên đồn đó, về sau quen gọi “Trấn Lao Bảo”. Tư liệu này ghi năm đắp đồn chưa thống nhất (cùng một đoạn vừa nêu năm 1883 vừa nêu tên vua Minh Mạng, vốn mất năm 1841), nên mốc thời gian cần thận trọng; điều nhất quán là tên Lao Bảo bắt nguồn từ một đồn trấn biên của triều Nguyễn.

Phân tích chữ: các trang tiếng Trung ghi tên này là 牢堡. Chữ 堡 (bảo) nghĩa là đồn, lũy, thành nhỏ — khớp với gốc tích một đồn biên phòng. Chữ 牢 (lao) vốn nghĩa là chuồng, ngục, vững chắc; đây cũng là chữ “lao” trong tên Ai Lao (哀牢) mà sử Việt dùng chỉ đất Lào. Chưa tìm được văn bản chữ Hán gốc của triều Nguyễn giải thích riêng chữ “Lao” trong tên đồn, nên nghĩa chính xác của chữ này để ngỏ. Có một điều chắc chắn: tên Lao Bảo đã có trước khi nhà đày được xây (cơ sở hành chính Lao Bảo lập năm 1898, nhà đày khởi công năm 1908), nên tên gọi không bắt nguồn từ nhà tù.

Lịch sử tên: làng người Kinh lập dọc Đường 9 từ thập niên 1930 được gọi là Làng Bảo. Ngày 1/8/1994 xã Tân Phước được chuyển thành thị trấn Lao Bảo; từ 1/7/2025 Lao Bảo là xã trực thuộc tỉnh Quảng Trị.

Trùng tên: Lao Bảo là tên duy nhất trong danh mục xã phường mới.

Địa lý

Theo Wikipedia tiếng Việt, xã Lao Bảo giáp Hướng Phùng ở phía bắc, Lìa ở phía nam, Khe Sanh và Tân Lập ở phía đông, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ở phía tây. Một đoạn đường biên là dòng sông Xê Pôn (Sê Pôn), phụ lưu của sông Mê Kông.

Địa hình là một lòng chảo – thung lũng kéo dài dọc biên giới, nằm ở phần thấp của khối núi Trường Sơn. Bao quanh là các bề mặt đồi lượn sóng cao khoảng 100–300 m; dọc sông Xê Pôn có dải đất bằng tương đối liên tục, thuận lợi cho xây dựng đô thị và sản xuất. Đất đồi quanh vùng phong hóa từ đá trầm tích màu tím đỏ, cho thổ nhưỡng đỏ vàng.

Lịch sử

Dọc sông Xê Pôn đã tìm thấy công cụ đá cuội ghè đẽo, hiện trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Quảng Trị, cho thấy con người cư trú ở đây từ rất sớm. Đây là vùng cư trú truyền thống của người Bru – Vân Kiều; trong sử Việt, vùng này lần lượt thuộc châu Thuận, rồi châu Thuận Bình (thời Lê – Mạc), rồi thuộc châu – huyện Hướng Hóa thời Nguyễn.

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp chú ý tới Lao Bảo như cửa ngõ sang Lào. Nghị định ngày 21/11/1898 của Toàn quyền Đông Dương lập cơ sở hành chính Lao Bảo trực thuộc Công sứ Quảng Trị. Nhà thám hiểm Isabelle Massieu đi qua vùng này năm 1897.

  • 1908 — khởi công nhà đày Lao Bảo trên khu đất chừng 10 ha, giam tù chính trị miền Trung.
  • 1915 — khoảng 200 tù nhân chính trị nổi dậy, phá ngục, rút vào rừng; cuộc nổi dậy do Hồ Bá Kiện chỉ huy, thất bại sau khoảng một tháng.
  • 1930 — Pháp làm đường thuộc địa số 9 (nay là Quốc lộ 9) qua Lao Bảo; người Kinh tới lập Làng Bảo bên đường.
  • Tháng 1/1947 — quân Pháp từ Lào vượt sông Xê Pôn, đánh chiếm Lao Bảo.
  • 1968 – 1971 — vùng Lao Bảo nằm trong địa bàn Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, rồi là trục chính của chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (Lam Sơn 719).
  • 1/8/1994 — chuyển xã Tân Phước thành thị trấn Lao Bảo.
  • 1998 – 2005 — lập khu thương mại Lao Bảo (1998), rồi Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo (Quyết định 11/2005/QĐ-TTg ngày 12/1/2005).
  • 16/6/2025 — Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 sắp xếp thị trấn Lao Bảo, xã Tân Long, xã Tân Thành thành xã Lao Bảo, hoạt động từ 1/7/2025.

Dân cư – xã hội

Lao Bảo có 23.459 người, tập trung dày ở khu phố cửa khẩu và dọc Quốc lộ 9. Thành phần dân cư gồm người Kinh từ nhiều nơi đến buôn bán, lập nghiệp (nhiều nhất sau năm 1975 và từ khi có khu thương mại), cùng người Bru – Vân Kiều sinh sống ở các bản ven đồi và ven sông. Giao thương qua biên giới với phía Lào là một phần quen thuộc của đời sống nơi đây.

Là thị trấn cửa khẩu, khu trung tâm có chợ, cơ sở giáo dục, y tế và lực lượng biên phòng, hải quan, kiểm dịch. Nhịp sống mang dáng một đô thị biên giới nhỏ: hàng quán, kho bãi, dịch vụ vận tải nối liền với nương rẫy, vườn cây ở các thôn phía ngoài.

Kinh tế

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo thông thương với cửa khẩu quốc tế Densavan (huyện Sepon, tỉnh Savannakhet), ở Km 83 – điểm cuối Quốc lộ 9. Đây là nút quan trọng của Hành lang kinh tế Đông – Tây nối Lào, Thái Lan với các cảng miền Trung Việt Nam.

Khu Kinh tế – Thương mại đặc biệt Lao Bảo hình thành từ quy chế khu thương mại năm 1998, phạm vi ban đầu bao gồm thị trấn Lao Bảo, thị trấn Khe Sanh và các xã Tân Thành, Tân Long, Tân Lập, Tân Liên, Tân Hợp. Đầu năm 2008 Thủ tướng phê duyệt quy hoạch chung, đưa Lao Bảo vào nhóm 9 khu kinh tế cửa khẩu được ưu tiên đầu tư. Thương mại, kho vận, dịch vụ xuất nhập khẩu là trụ cột kinh tế của khu trung tâm.

Ở các thôn thuộc Tân Thành và Tân Long cũ, nông nghiệp vẫn giữ vai trò lớn: lúa nước trên dải đất ven sông, sắn, chuối, cà phê và cây lâu năm trên đất đồi theo mặt bằng chung của vùng Hướng Hóa.

Văn hóa – di tích

Nhà đày Lao Bảo (nhà tù Lao Bảo) ở thôn Duy Tân, cách Quốc lộ 9 khoảng 2 km về phía nam, là một trong những nhà tù lớn của Đông Dương thời Pháp. Nơi đây từng giam nhiều người tham gia phong trào yêu nước và cách mạng, trong đó có nhà thơ Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh, Lê Thế Tiết. Khu nhà giam gồm các dãy lao A, B, C, D và hầm biệt giam E; hai dãy C, D bằng đá và bê tông xây thêm năm 1931–1934. Di tích được xếp hạng quốc gia ngày 25/1/1991; năm 1995 dựng đài chứng tích, đàn âm hồn và nhà bia tưởng niệm Hồ Bá Kiện, năm 2000 xây thêm cụm tượng đài.

Trong bài báo năm 1928, Phan Khôi từng viết rằng tù nhân Lao Bảo được chuyển ra Côn Lôn là “được” chứ không phải “bị”, vì đày Lao Bảo tuy gần mà “không có ngày về” — một chi tiết thường được dẫn để nói về mức khắc nghiệt của nơi này.

Văn hóa người Bru – Vân Kiều (nhà sàn, cồng chiêng, các lễ cúng theo mùa rẫy) hiện diện ở các bản quanh thị trấn, đan xen với nếp sinh hoạt của người Kinh nơi phố chợ biên giới.

Giao thông

Quốc lộ 9 — một phần đường Xuyên Á AH16 — kết thúc tại cửa khẩu Lao Bảo, nối sang Quốc lộ 9 của Lào đi Savannakhet và Thái Lan. Từ ngã ba Tân Long, đường tỉnh 586 đi về phía đông nam tới các xã Lìa và A Dơi.

Hành chính

Địa chỉ mới ghi “…, xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị”, thay cho “thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa”. Trụ sở xã đặt tại trụ sở UBND thị trấn Lao Bảo (cũ). Thủ tục xuất nhập cảnh, hải quan tại cửa khẩu do các lực lượng chuyên ngành phụ trách, không thuộc thẩm quyền UBND xã.

Bản đồ Xã Lao Bảo

Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗

Xã, phường cũ hợp thành

Xã Lao Bảo được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Đơn vị cũHuyện, quận, thị xã cũTỉnh cũPhạm vi
Thị trấn Lao BảoHuyện Hướng HóaTỉnh Quảng Trị toàn bộ
Xã Tân LongHuyện Hướng HóaTỉnh Quảng Trị toàn bộ
Xã Tân ThànhHuyện Hướng HóaTỉnh Quảng Trị toàn bộ

Hỏi đáp nhanh

Xã Lao Bảo gồm những đơn vị cũ nào?

Thị trấn Lao Bảo và hai xã Tân Long, Tân Thành thuộc huyện Hướng Hóa cũ, theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15, hiệu lực từ 1/7/2025.

Tên Lao Bảo có nghĩa là gì?

Tên bắt nguồn từ một đồn trấn biên của triều Nguyễn ở vùng giáp Ai Lao. Chữ Hán thường ghi là 牢堡, trong đó 堡 (bảo) là đồn lũy; tên có trước nhà đày Lao Bảo nên không mang nghĩa “nhà lao”.

Cửa khẩu Lao Bảo thông sang đâu?

Sang cửa khẩu quốc tế Densavan, huyện Sepon, tỉnh Savannakhet (Lào), ở điểm cuối Quốc lộ 9.

Nhà đày Lao Bảo nằm ở đâu?

Ở thôn Duy Tân, xã Lao Bảo, cách Quốc lộ 9 khoảng 2 km về phía nam; là di tích quốc gia từ năm 1991.

Diện tích và dân số xã Lao Bảo?

Diện tích 83,04 km², dân số 23.459 người.

Cùng Huyện Hướng Hóa trước đây

← Toàn bộ 78 xã, phường của Quảng Trị Tra tên xã cũ → mới

Nguồn: nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 (1680/NQ-UBTVQH15); Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. · Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp ĐVHC cấp xã tỉnh Quảng Trị · Wikipedia tiếng Việt — Lao Bảo · Wikipedia tiếng Việt — Cửa khẩu Lao Bảo · Wikipedia tiếng Việt — Nhà tù Lao Bảo · Wikipedia tiếng Việt — Hướng Hóa · Wikipedia tiếng Trung — 向化县 (tên chữ Hán các xã) · Wiki Ngôn Ngữ — chữ 堡 · Cập nhật 05/11/2026 · Dữ liệu mở: JSON