Trung Thuần là xã thuộc tỉnh Quảng Trị, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã Quảng Lưu, Quảng Thạch và Quảng Tiến của huyện Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình cũ). Diện tích 98,83 km², dân số 16.331 người.
Tổng quan
Trung Thuần là một xã của tỉnh Quảng Trị, nằm trên phần đất phía tây của huyện Quảng Trạch cũ, thuộc vùng bắc Quảng Bình trước khi hai tỉnh hợp nhất năm 2025. Xã được lập từ ba xã Quảng Lưu, Quảng Thạch và Quảng Tiến; trụ sở Đảng ủy, HĐND và UBND xã đặt tại trụ sở cũ của xã Quảng Lưu.
Xã có diện tích 98,83 km² và 16.331 người, mật độ khoảng 165 người/km² — chỉ cao hơn Phú Trạch trong năm xã của vùng Quảng Trạch cũ, và thưa hơn nhiều so với các xã ven biển như Hòa Trạch hay Quảng Trạch (trên 550 người/km²).
Điểm nhận diện của Trung Thuần là chiều sâu lịch sử của chính cái tên: làng Trung Thuần là quê của danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh (1808–1867), và trên địa bàn có Chiến khu Trung Thuần, di tích lịch sử cấp quốc gia xếp hạng năm 1995. Cùng vùng Quảng Trạch cũ còn có các xã Phú Trạch, Hòa Trạch, Quảng Trạch và Tân Gianh.
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: Trung Thuần không trùng tên với xã cũ nào trong ba xã hợp thành (Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến). Đây là tên được khôi phục từ lịch sử địa phương, và có ít nhất hai lớp nghĩa đã được ghi chép:
- Tên làng: theo tiểu sử Nguyễn Hàm Ninh trên Wikipedia tiếng Việt, ông là người làng Phù Ninh, sau dời sang làng Trung Ái thuộc phủ Quảng Trạch — nay là làng Trung Thuần, trong địa bàn xã Trung Thuần.
- Tên đồn binh: các tư liệu về địa danh Ba Đồn ghi rằng thời Hậu Lê, chúa Trịnh lập ba đồn lính ở bờ bắc sông Gianh là đồn Trung Thuần, đồn Phan Long và đồn Xuân Kiều; tên “Ba Đồn” được giải thích từ ba đồn này. Như vậy tên xã mới gắn với thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, khi sông Gianh là ranh giới Đàng Ngoài – Đàng Trong.
Trong thế kỷ XX, tên Trung Thuần tiếp tục được dùng cho Chiến khu Trung Thuần — căn cứ được xây dựng quanh thời kỳ Cách mạng tháng Tám 1945 ở phủ Quảng Trạch.
Phân tích Hán Việt: chưa tìm được văn bản chữ Hán ghi tên làng, nên chỉ có thể nêu các khả năng phổ biến. Âm trung thường ứng với 中 (ở giữa) hoặc 忠 (trung thành); âm thuần thường ứng với 純 (thuần khiết, không pha tạp) hoặc 淳 (thuần hậu, chất phác). Tên làng xưa có thể mang nghĩa “trung hậu, thuần phác” hay “thuần khiết ở chốn giữa”, nhưng chữ gốc cần được đối chiếu với địa bạ, gia phả hoặc văn bia của làng trước khi kết luận.
Trùng tên: trong danh mục đơn vị cấp xã sau sắp xếp năm 2025, Trung Thuần là tên duy nhất trên cả nước. Cần phân biệt với cụm “An Nam Trung Thuần Vương” — thụy hiệu nhà Thanh đặt cho vua Quang Trung, không liên quan tới địa danh này.
Địa lý
Theo mô tả trên Wikipedia tiếng Việt, xã Trung Thuần giáp xã Phú Trạch và Hòa Trạch ở phía bắc, xã Tân Gianh ở phía nam, xã Quảng Trạch ở phía đông và đông nam, và các xã Tuyên Bình, Tuyên Hóa (vùng Tuyên Hóa cũ) ở phía tây. Xã không giáp biển.
Huyện Quảng Trạch cũ trải từ chân dãy Hoành Sơn ở phía bắc xuống tới bờ bắc sông Gianh ở phía nam; vùng đồi thấp chạy dọc phía tây huyện. Trung Thuần nằm ở dải chuyển tiếp ấy, nên có cả đồng ruộng lẫn gò đồi — điều khớp với mật độ dân cư thưa hơn các xã ven biển.
Khí hậu là khí hậu nhiệt đới gió mùa của Bắc Trung Bộ: mùa hè chịu gió tây khô nóng, mùa mưa bão và lũ tập trung vào khoảng tháng 9 đến tháng 11, mùa đông có gió mùa đông bắc mang mưa phùn và lạnh.
Lịch sử
Vùng đất này thuộc châu Bố Chính, một trong ba châu (Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh) mà Chiêm Thành nhượng cho Đại Việt sau chiến tranh năm 1069. Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (thế kỷ XVII–XVIII), bờ bắc sông Gianh thuộc Đàng Ngoài và là tuyến phòng thủ của quân Trịnh; đồn Trung Thuần là một trong ba đồn lính lập ở khu vực này.
Khi tỉnh Quảng Bình được lập năm 1831, triều Nguyễn đặt phủ Quảng Ninh, sau đặt thêm phủ Quảng Trạch quản các huyện phía bắc. Sau năm 1945, cấp phủ bị bỏ, vùng này thuộc huyện Quảng Trạch.
- Trước 1977: Quảng Lưu và Quảng Thạch đã là xã của huyện Quảng Trạch (danh sách 30 xã của huyện sau năm 1975 có cả hai).
- 23/2/1977: thành lập xã Quảng Tiến. Thời kỳ này huyện thuộc tỉnh Bình Trị Thiên (1976–1989).
- 30/6/1989: tái lập tỉnh Quảng Bình; ba xã thuộc huyện Quảng Trạch.
- 20/12/2013: Nghị quyết 125/NQ-CP tách thị trấn Ba Đồn và 15 xã phía nam lập thị xã Ba Đồn; Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến ở lại huyện Quảng Trạch, huyện lỵ dời về xã Quảng Phương.
- 16/6/2025: Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 nhập toàn bộ ba xã thành xã Trung Thuần thuộc tỉnh Quảng Trị (tỉnh Quảng Bình đã hợp nhất vào Quảng Trị theo Nghị quyết 202/2025/QH15). Xã hoạt động từ 1/7/2025.
Trong Cách mạng tháng Tám, theo tiểu sử tướng Đồng Sĩ Nguyên, ông khi phụ trách Phủ ủy Quảng Trạch đã tham gia xây dựng chiến khu Trung Thuần và tổ chức huấn luyện quân sự tại đây.
Dân cư – xã hội
Xã có 16.331 người trên 98,83 km², khoảng 165 người/km². Dân cư là người Kinh, sống theo làng, thôn — kiểu tụ cư lâu đời của vùng đồng bằng – trung du bắc Quảng Bình.
Vùng Quảng Trạch cũ có tỷ lệ người theo Công giáo cao: Wikipedia tiếng Việt ghi khoảng 51,4% dân số huyện theo đạo Thiên Chúa; bên cạnh đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng làng và Phật giáo. Con số này là của cấp huyện, không phải riêng của xã.
Vùng này có truyền thống học hành gắn với tên tuổi Nguyễn Hàm Ninh, người đỗ giải nguyên kỳ thi Hương năm 1831 và từng dạy học cho thái tử Miên Tông (sau là vua Thiệu Trị). Hệ thống trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trạm y tế được tổ chức theo cấp xã; sau sáp nhập, các cơ sở cũ của ba xã vẫn tiếp tục phục vụ từng cụm dân cư.
Kinh tế
Kinh tế Trung Thuần chủ yếu là nông nghiệp và lâm nghiệp: trồng lúa trên các cánh đồng thấp, trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày và rừng trồng trên vùng gò đồi, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm. Wikipedia tiếng Việt ghi nhận dải gò đồi ở khu vực Quảng Bình cũ tập trung chủ yếu tại Bố Trạch, Quảng Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy — Trung Thuần thuộc dải này.
Xã không giáp biển nên không có nghề đánh bắt hải sản như các xã ven biển Phú Trạch, Hòa Trạch, nhưng nằm gần các trục giao thông chính của vùng (Quốc lộ 1, đường cao tốc Bắc – Nam đoạn Vũng Áng – Bùng đi qua địa bàn huyện cũ). Dịch vụ, buôn bán nhỏ và lao động đi làm ăn xa là nguồn thu nhập đáng kể của nhiều hộ, như phổ biến ở vùng bắc Quảng Bình.
Văn hóa – di tích
- Chiến khu Trung Thuần — di tích lịch sử cấp quốc gia, xếp hạng năm 1995; danh mục di tích quốc gia ghi địa điểm tại xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch (nay thuộc xã Trung Thuần).
- Lăng mộ Nguyễn Hàm Ninh — mộ của danh sĩ nằm ở xã Quảng Lưu cũ; tỉnh Quảng Bình (cũ) đưa lăng mộ vào danh mục di tích được bảo vệ. Nguyễn Hàm Ninh để lại Tĩnh Trai thi tập bằng chữ Hán và bài văn Nôm Phản thúc ước; ông là bạn thơ của Cao Bá Quát.
- Trống đồng Phù Lưu — di vật khảo cổ phát hiện ở thôn Phù Lưu, nay thuộc xã Trung Thuần.
- Đình Đồng Dương — di tích cấp quốc gia của huyện Quảng Trạch cũ; một số danh mục ghi đình thuộc vùng Quảng Lưu – Quảng Thạch, song địa điểm cần đối chiếu thêm.
Đời sống văn hóa dân gian của vùng chung với cả bắc Quảng Bình: lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển, lối hát Kiều được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023 cho các địa bàn Quảng Trạch, Tuyên Hóa và Ba Đồn.
Nhân vật
Nguyễn Hàm Ninh (阮咸寧, 1808–1867), tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai và Nhâm Sơn, đỗ giải nguyên kỳ thi Hương năm Tân Mão (1831); từng làm tri huyện Lục Ngạn, Quốc học độc thư, Án sát Khánh Hòa. Đại Nam chính biên liệt truyện khen thơ văn ông “trầm tĩnh, hùng mạnh”. Tên ông được đặt cho đường phố ở Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Đồng Hới.
Hành chính
Địa chỉ sau ngày 1/7/2025 ghi theo hai cấp: “Thôn …, xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị” — không còn cấp huyện Quảng Trạch và không còn tỉnh Quảng Bình. Người dân các xã cũ Quảng Lưu, Quảng Thạch, Quảng Tiến làm thủ tục tại UBND xã Trung Thuần (đặt tại trụ sở cũ của xã Quảng Lưu) hoặc các điểm tiếp nhận dịch vụ công của xã.
Bản đồ Xã Trung Thuần
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Trung Thuần được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Quảng Lưu | Huyện Quảng Trạch | Tỉnh Quảng Bình | toàn bộ |
| Xã Quảng Thạch | Huyện Quảng Trạch | Tỉnh Quảng Bình | toàn bộ |
| Xã Quảng Tiến | Huyện Quảng Trạch | Tỉnh Quảng Bình | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Trung Thuần gồm những xã cũ nào?
Toàn bộ ba xã Quảng Lưu, Quảng Thạch và Quảng Tiến của huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ, theo Nghị quyết 1680/NQ-UBTVQH15, hiệu lực từ 1/7/2025.
Tên Trung Thuần có nghĩa là gì?
Đây là tên lịch sử: tên làng Trung Thuần (quê Nguyễn Hàm Ninh) và tên một trong ba đồn lính chúa Trịnh lập ở bờ bắc sông Gianh. Chữ Hán gốc chưa xác định chắc; âm trung thường là 中 (giữa) hoặc 忠 (trung thành), âm thuần thường là 純/淳 (thuần khiết, thuần hậu).
Trung Thuần có di tích quốc gia nào?
Chiến khu Trung Thuần, di tích lịch sử cấp quốc gia xếp hạng năm 1995, ghi địa điểm tại xã Quảng Lưu cũ.
Danh sĩ Nguyễn Hàm Ninh quê ở đâu?
Ông người làng Phù Ninh, sau dời sang làng Trung Ái (nay là làng Trung Thuần, xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị); mộ ông ở Quảng Lưu cũ.
Trụ sở xã Trung Thuần đặt ở đâu?
Tại trụ sở cũ của UBND xã Quảng Lưu.
Mật độ dân số xã Trung Thuần là bao nhiêu?
Khoảng 165 người/km² (16.331 người trên 98,83 km²).
Cùng Huyện Quảng Trạch trước đây
- Xã Hòa Trạch 29.901
- Xã Phú Trạch 30.850
- Xã Quảng Trạch 31.422
- Xã Tân Gianh 22.395
← Toàn bộ 78 xã, phường của Quảng Trị Tra tên xã cũ → mới