VietNam34.comViệt Nam 34

Xã Na Dương

Xã thuộc Tỉnh Lạng Sơn · đơn vị hành chính cấp xã từ 1/7/2025 · trước đây thuộc Huyện Lộc Bình

Na Dương là xã thuộc tỉnh Lạng Sơn, trung tâm khai thác than và nhiệt điện của tỉnh, được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15 từ thị trấn Na Dương và hai xã Đông Quan, Tú Đoạn của huyện Lộc Bình cũ. Diện tích 109,91 km², dân số 24.369 người.

Tổng quan

Na Dương là cái tên quen với ngành năng lượng: mỏ than lộ thiên Na Dương cung cấp nhiên liệu cho Nhà máy nhiệt điện Na Dương của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, và một tuyến đường sắt nhánh dài khoảng 30 km chạy từ Yên Trạch về ga cuối Na Dương. Cũng trong lòng mỏ, các nhà cổ sinh vật học đã tìm thấy hàng loạt hóa thạch khoảng 35–39 triệu năm tuổi, đưa tên Na Dương vào danh pháp khoa học của nhiều loài cổ.

Từ 1/7/2025, xã Na Dương gồm thị trấn Na Dương cũ và hai xã Đông Quan, Tú Đoạn. Xã rộng 109,91 km², dân số 24.369 người, mật độ khoảng 222 người/km² — đông dân thứ hai trong các xã vùng Lộc Bình cũ, sau xã Lộc Bình. Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã đặt tại trụ sở cũ của thị trấn Na Dương.

Tên gọi và ý nghĩa

Nguồn gốc: xã mới giữ tên thị trấn Na Dương — đơn vị đông dân nhất và là trung tâm công nghiệp của nhóm. Tên Đông Quan, Tú Đoạn không còn là tên đơn vị hành chính.

Về chữ và nghĩa: Na Dương là tên địa danh vùng Tày – Nùng; các tư liệu đã tra không ghi chữ Hán gốc của tên, cũng không giải thích nghĩa. Công cụ tra Hán Việt cho thấy âm “na” có các chữ như 那 (kia, đó) và âm “dương” có 陽 (mặt trời, phía sáng), 洋 (biển lớn) — nhưng không có căn cứ nào cho thấy tên đất dùng chữ nào trong số đó. Vì vậy nghĩa của tên Na Dương chưa được xác nhận; không nên giải nghĩa theo từng chữ Hán.

Tên trong khoa học: tên đất này được dùng làm tên định danh cho các hóa thạch phát hiện ở mỏ than: tê giác cổ Epiaceratherium naduongense (“tê giác Na Dương”, phát hiện năm 2013) và cá sấu cổ Orientalosuchus naduongensis (công bố năm 2019). Tầng trầm tích chứa hóa thạch được giới khoa học gọi là hệ tầng Na Dương.

Tên các xã cũ: Đông Quan từ năm 2020 đã bao gồm cả xã Quan Bản. Tú Đoạn là tên Hán Việt của xã cũ, chưa có tư liệu giải thích. Trong cả nước, chỉ Lạng Sơn có đơn vị hành chính mang tên Na Dương.

Địa lý

Xã nằm ở trung tâm vùng Lộc Bình cũ: phía bắc giáp xã Lộc Bình và xã Mẫu Sơn; phía đông giáp Khuất Xá và Lợi Bác; phía nam giáp Xuân Dương; phía tây giáp Thống Nhất.

Sông Kỳ Cùng chảy qua xã theo hướng đông nam – tây bắc, từ Lợi Bác, Khuất Xá xuống Lộc Bình. Vùng trung tâm là một bồn trũng chứa than nâu — bồn trũng Na Dương — được khai thác lộ thiên; quanh mỏ là đồi thấp và các cánh đồng ven sông. Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi Đông Bắc, mùa đông lạnh.

Lịch sử

Đông Quan và Tú Đoạn có tên trong danh sách 27 xã của huyện Lộc Bình thời tỉnh Cao Lạng (1976–1978). Huyện Lộc Bình từng được Khu ủy 12 tạm chuyển về tỉnh Hải Ninh tháng 7/1947, đến 7/6/1949 trở lại tỉnh Lạng Sơn.

  • 1966 — xây dựng tuyến đường sắt Yên Trạch – Na Dương dài khoảng 30 km, nối vùng mỏ với tuyến Hà Nội – Đồng Đăng.
  • 12/1/1984 — thành lập thị trấn Na Dương từ 600 ha của xã Lợi Bác, 200 ha của xã Đông Quan và 150 ha của xã Sàn Viên.
  • 1/1/2020 — xã Quan Bản nhập vào xã Đông Quan (Nghị quyết 818/NQ-UBTVQH14).
  • 16/6/2025 — Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15 hợp thị trấn Na Dương, xã Đông Quan và xã Tú Đoạn thành xã Na Dương, hoạt động từ 1/7/2025.

Như vậy, thị trấn Na Dương là đô thị “sinh ra từ mỏ”: được cắt đất từ ba xã xung quanh để phục vụ khu khai thác, và năm 2025 lại hợp với một trong ba xã đó.

Dân cư – xã hội

Dân số hơn 24 nghìn người, tập trung đông ở khu thị trấn cũ quanh mỏ và nhà máy. Theo cổng thông tin huyện Lộc Bình cũ, cơ cấu dân tộc toàn huyện năm 2023 gồm người Tày (khoảng 57%), Nùng (khoảng 28%), Kinh (gần 6%), cùng người Hoa, Dao, Sán Chỉ; người Kinh tập trung nhiều hơn ở các khu thị trấn như Na Dương. Các thôn của Đông Quan, Tú Đoạn chủ yếu là người Tày, Nùng làm nông.

Xã có trường học các cấp và cơ sở y tế; khu dân cư gắn với mỏ và nhà máy điện là nét riêng so với các xã thuần nông xung quanh.

Kinh tế

Công nghiệp năng lượng là trụ cột: mỏ than Na Dương cung cấp nhiên liệu cho Nhà máy nhiệt điện Na Dương — một đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV). Theo giới thiệu về kinh tế tỉnh, sản xuất điện và vật liệu xây dựng là các ngành công nghiệp đáng kể của Lạng Sơn, trong đó Na Dương là điểm tập trung.

Ngoài than, vùng này có đất sét cao lanh — cổng thông tin huyện cũ ghi nhận cao lanh ở Đông Quan, Tú Đoạn và thị trấn Na Dương. Các thôn trồng lúa nước ở thung lũng, cây ăn quả trên sườn đồi và trồng rừng, chủ yếu thông mã vĩ.

Văn hóa – khoa học

Điểm đặc biệt của Na Dương nằm dưới lòng đất: tầng trầm tích tuổi Eocen muộn (khoảng 39–35 triệu năm) lộ ra trong mỏ than là “cửa sổ” hiếm hoi về hệ sinh thái cổ ở Đông Nam Á. Nhóm nhà khoa học Đức, Pháp, Úc và Việt Nam đã mô tả từ đây:

  • Tê giác Na Dương (Epiaceratherium naduongense), phát hiện năm 2013, do nhóm của GS. Madelaine Böhme (Đại học Tübingen) đặt tên theo địa danh.
  • Cá sấu cổ Orientalosuchus naduongensis, mô tả năm 2019 từ hóa thạch của ít nhất 29 cá thể thu thập trong các đợt khảo sát 2009–2012.
  • Linh trưởng cổ Anthradapis vietnamensis (2019), loài linh trưởng thế Eocen đầu tiên tìm thấy ở Việt Nam; tên chi lấy từ tiếng Hy Lạp “anthrax” (than đá), chỉ môi trường mỏ than.

Ngoài ra còn nhiều hóa thạch rùa, cá nước ngọt, trai và thú có vú khác.

Về văn hóa dân gian, lễ hội Rinh Chùa ở Tú Đoạn được cổng thông tin huyện Lộc Bình cũ kể tên trong các lễ hội tiêu biểu của huyện. Vùng Đông Quan còn gắn với khu căn cứ Đông Quan – Xuân Dương, một điểm di tích lịch sử của huyện. Người Tày, Nùng giữ các điệu sli, lượn, hát then.

Giao thông

Quốc lộ 4B từ Tiên Yên (Quảng Ninh) lên Lạng Sơn đi qua Lợi Bác – Na Dương – Lộc Bình. Tuyến đường sắt nhánh Yên Trạch – Na Dương có ga cuối là ga Na Dương. Hướng tuyến cao tốc Tiên Yên – Lạng Sơn – Cao Bằng theo quy hoạch cũng đi qua địa bàn Na Dương.

Hành chính

Địa chỉ từ 1/7/2025: khu/thôn …, xã Na Dương, tỉnh Lạng Sơn — không còn “thị trấn Na Dương, huyện Lộc Bình”. Người dân thị trấn cũ, Đông Quan, Tú Đoạn làm thủ tục tại UBND xã Na Dương (trụ sở cũ của thị trấn).

Bản đồ Xã Na Dương

Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗

Xã, phường cũ hợp thành

Xã Na Dương được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Đơn vị cũHuyện, quận, thị xã cũTỉnh cũPhạm vi
Thị trấn Na DươngHuyện Lộc BìnhTỉnh Lạng Sơn toàn bộ
Xã Đông QuanHuyện Lộc BìnhTỉnh Lạng Sơn toàn bộ
Xã Tú ĐoạnHuyện Lộc BìnhTỉnh Lạng Sơn toàn bộ

Hỏi đáp nhanh

Xã Na Dương gồm những đơn vị cũ nào?

Thị trấn Na Dương và hai xã Đông Quan, Tú Đoạn của huyện Lộc Bình cũ (Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15, từ 1/7/2025).

Tên Na Dương có nghĩa là gì?

Đây là địa danh vùng Tày – Nùng; tư liệu đã tra không ghi chữ Hán gốc hay giải thích nghĩa, nên nghĩa của tên chưa được xác nhận.

Thị trấn Na Dương được lập khi nào?

Ngày 12/1/1984, từ 600 ha của xã Lợi Bác, 200 ha của xã Đông Quan và 150 ha của xã Sàn Viên.

Na Dương nổi tiếng về hóa thạch gì?

Mỏ than Na Dương có hóa thạch tuổi Eocen muộn, trong đó có tê giác cổ Epiaceratherium naduongense, cá sấu cổ Orientalosuchus naduongensis và linh trưởng cổ Anthradapis vietnamensis.

Diện tích, dân số xã Na Dương?

109,91 km² và 24.369 người (số liệu sắp xếp năm 2025).

Cùng Huyện Lộc Bình trước đây

← Toàn bộ 65 xã, phường của Lạng Sơn Tra tên xã cũ → mới

Nguồn: nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 (1672/NQ-UBTVQH15); Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh. · Nghị quyết 1672/NQ-UBTVQH15 · Lạng Sơn đề xuất tên gọi, trụ sở 65 ĐVHC cấp xã (4/2025) · Cổng TTĐT Lộc Bình — Thông tin chung (huyện cũ) · Wikipedia — Na Dương · Wikipedia — Lộc Bình (huyện) · Wikipedia — Lạng Sơn (kinh tế, mỏ than và nhiệt điện Na Dương) · Wikipedia — Đường sắt Yên Trạch – Na Dương · Wikipedia — Tê giác Na Dương · Wikipedia — Anthradapis vietnamensis · Wikipedia (EN) — Orientalosuchus · Wikipedia — Quốc lộ 4 (4B) · Cập nhật 05/11/2026 · Dữ liệu mở: JSON