Thuận An là phường ven biển thuộc Thành phố Huế, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở phường Thuận An (quận Thuận Hóa cũ) và hai xã Phú Hải, Phú Thuận (huyện Phú Vang cũ). Phường rộng 36,48 km², dân số 54.846 người, ôm cửa biển Thuận An — thủy lộ chính đưa sông Hương qua phá Tam Giang ra biển.
Tổng quan
Cách trung tâm Huế khoảng 13 km, phường Thuận An của Thành phố Huế nằm trên dải cồn cát giữa biển Đông và phá Tam Giang, hai bên cửa biển Thuận An. Cửa biển này là thủy lộ chính thông sông Hương qua phá ra biển, nên từ thời Nguyễn đã giữ vai trò trọng yếu về chiến lược, thương mại đối với kinh đô.
Phường rộng 36,48 km², dân số 54.846 người, mật độ khoảng 1.500 người/km². Trụ sở Ủy ban nhân dân phường đặt tại số 164 Kinh Dương Vương.
Thuận An mang dấu ấn lịch sử đậm: Trấn Hải Thành thời Gia Long, trận tháng Tám năm 1883 khi quân Pháp đánh chiếm cửa biển, dẫn tới Hòa ước Quý Mùi. Bãi biển Thuận An là nơi tắm biển gần trung tâm Huế.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên phường kế thừa tên phường Thuận An cũ, và gốc xa hơn là tên cửa biển Thuận An. Cửa biển xưa có tên cửa Eo, cửa Nộn; trong thư tịch còn gặp các tên Yêu Hải môn, Noãn Hải môn, Nhuyễn Hải môn. Đại Việt sử ký toàn thư ghi năm Giáp Thân (1404), đời nhà Hồ, cửa biển Hóa Châu mở ra ở làng Hòa Duân. Về thời điểm đặt tên Thuận An, các nguồn ghi khác nhau: có nguồn chép năm 1813 thời Gia Long, cùng lúc xây Trấn Hải Đài; có nguồn chép năm Gia Long thứ 13 (1814); có nguồn cho rằng đến thời Minh Mạng mới đặt.
Chữ Hán là 順安. Chữ 順 (thuận) nghĩa là xuôi theo, thuận lợi; chữ 安 (an) là yên ổn. Theo mặt chữ, Thuận An là "xuôi thuận, yên ổn".
Tên cửa biển còn "di chuyển" theo dòng nước: năm 1904, sau trận lũ lớn, cửa Eo bị cát bồi gần như không thông ra biển nên nơi đó gọi là cửa Lấp; trong khi một cửa mới mở từ năm 1897 ở làng Thái Dương Hạ, gọi là cửa Sứt, và tên Thuận An được chuyển sang cửa này. Vua Minh Mạng cho chạm "Thuận An hải khẩu" lên Nghị đỉnh trong Cửu Đỉnh ở Thế Miếu; vua Thiệu Trị xếp Thuận An vào 20 thắng cảnh kinh đô.
Hai xã cũ Phú Hải và Phú Thuận mang chữ đầu "Phú" như phần lớn các xã huyện Phú Vang.
Trùng tên: xã Thuận An (Hà Nội), phường Thuận An (TP Hồ Chí Minh), xã Thuận An (Lâm Đồng). Khi viết địa chỉ cần ghi kèm "Thành phố Huế".
Địa lý
Phía bắc phường là biển Đông; phía đông giáp xã Phú Vinh trên cùng dải cồn cát; phía tây giáp các phường Dương Nỗ, Hóa Châu, Phong Quảng; phía nam giáp Dương Nỗ và Mỹ Thượng.
Địa hình là cồn cát ven biển, nền cát, thấp, kẹp giữa biển và phá Tam Giang. Cửa Thuận An cách trung tâm Huế khoảng 15 km về phía đông bắc; bờ biển biến đổi liên tục theo thời tiết, thủy triều, mùa bão. Khí hậu gió mùa của Huế.
Lịch sử
Cửa ngõ kinh đô
Năm 1813, vua Gia Long cho xây Trấn Hải Đài phòng ngự cửa biển; năm 1834 vua Minh Mạng đổi tên thành Trấn Hải Thành. Thành xây gạch, hình tròn, cao khoảng 4,4 m, có hào bao quanh; đời sau bố trí tổng cộng 99 cỗ súng đại bác. Tháng Tám năm 1883, quân Pháp tấn công cửa Thuận An; Trấn Hải Thành thất thủ sau trận hỏa pháo từ chiến thuyền Pháp, kinh thành bị uy hiếp, triều Nguyễn buộc phải ký Hòa ước Quý Mùi (Harmand) ngày 25/8/1883, công nhận nền bảo hộ của Pháp.
Các đơn vị hành chính
Địa bàn xưa là các xã Phú Tân, Phú Thuận, Phú Hải của huyện Phú Vang, xã Hải Dương và một phần xã Hương Hải của huyện Hương Trà. Năm 1981, Hương Hải và Phú Tân nhập vào thành phố Huế; năm 1983, Hương Hải chia thành xã Thuận An và xã Hải Dương; năm 1990, Thuận An, Phú Tân về Phú Vang, Hải Dương về Hương Trà. Theo Nghị định 75/1999/NĐ-CP ngày 20/8/1999, hai xã Thuận An và Phú Tân hợp thành thị trấn Thuận An. Năm 2013, thị trấn mở rộng (gồm cả xã Phú Thuận) được công nhận đô thị loại IV. Ngày 1/7/2021, thị trấn thành phường Thuận An của thành phố Huế (16,28 km²); ngày 1/1/2025 nhập thêm xã Hải Dương (9,69 km²).
Năm 2025
Theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15, phường Thuận An hợp nhất với hai xã Phú Thuận và Phú Hải thành phường Thuận An mới, hoạt động từ 1/7/2025.
Dân cư – xã hội
Dân cư sống thành các làng ven biển, ven phá; các tổ dân phố hiện mang tên làng cũ: Cự Lại, An Dương, Hòa Duân, Hải Thành, Tân Mỹ, Diên Trường, Vĩnh Trị, Thai Dương Thượng, Thai Dương Hạ… Làng Hòa Duân là nơi sử chép cửa biển mở ra năm 1404; làng Thai Dương Hạ là nơi mở cửa Sứt năm 1897. Đời sống gắn với biển và phá; mạng lưới trường học, trạm y tế theo mô hình chung của thành phố.
Kinh tế
Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản — thế mạnh của vùng biển và đầm phá Phú Vang — là nghề truyền thống. Du lịch biển phát triển nhờ bãi tắm Thuận An gần trung tâm. Phần đất Phú Vang cũ có hai chợ lớn: chợ Cự Lại (Phú Hải) và chợ An Dương (Phú Thuận); nước mắm làng Trài (Phú Hải) là đặc sản có tiếng.
Văn hóa – di tích
- Trấn Hải Thành — di tích lịch sử cấp quốc gia (1998), thuộc nhóm di tích triều Nguyễn bảo vệ kinh đô.
- Cửa Thuận An — một trong 20 thắng cảnh kinh đô thời Thiệu Trị, có tên chạm trên Nghị đỉnh ở Thế Miếu.
- Đình làng, miếu thờ của các làng chài Thai Dương, Hòa Duân, Cự Lại.
Giao thông
Trục Phạm Văn Đồng – Nguyễn Sinh Cung nối trung tâm Huế ra biển Thuận An; tuyến ven biển chạy dọc dải cồn cát. Cửa Thuận An là thủy lộ cho tàu thuyền ra vào phá Tam Giang và sông Hương.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, phường Thuận An, Thành phố Huế". Người dân xã Phú Hải, Phú Thuận cũ không còn ghi "huyện Phú Vang". Thủ tục hành chính làm tại trung tâm phục vụ hành chính công phường hoặc qua cổng dịch vụ công trực tuyến.
Bản đồ Phường Thuận An
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Thuận An được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Thuận An | Quận Thuận Hóa | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Phú Hải | Huyện Phú Vang | Thành phố Huế | toàn bộ |
| Xã Phú Thuận | Huyện Phú Vang | Thành phố Huế | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Thuận An gồm những đơn vị cũ nào?
Phường Thuận An (quận Thuận Hóa cũ, đã gồm xã Hải Dương từ 1/1/2025) và hai xã Phú Hải, Phú Thuận (huyện Phú Vang cũ), theo Nghị quyết 1675/NQ-UBTVQH15.
Tên Thuận An có nghĩa là gì?
Thuận An (順安): thuận là xuôi thuận, an là yên ổn. Đây là tên triều Nguyễn đặt cho cửa biển xưa gọi là cửa Eo; các nguồn ghi khác nhau về năm đặt tên (thời Gia Long hoặc Minh Mạng).
Trấn Hải Thành được xây khi nào?
Năm 1813 thời Gia Long với tên Trấn Hải Đài; năm 1834 Minh Mạng đổi tên Trấn Hải Thành; xếp hạng di tích quốc gia năm 1998.
Cửa Thuận An hiện nay có phải cửa biển thời đầu Nguyễn?
Không. Năm 1904 cửa Eo bị bồi lấp; tên Thuận An chuyển sang cửa Sứt mở năm 1897 ở làng Thái Dương Hạ.
Có bao nhiêu nơi tên Thuận An?
Ngoài phường Thuận An (Huế) còn xã Thuận An (Hà Nội), phường Thuận An (TP Hồ Chí Minh), xã Thuận An (Lâm Đồng).
Cùng Quận Thuận Hóa, Huyện Phú Vang trước đây
- Phường An Cựu 55.305
- Phường Dương Nỗ 31.692
- Phường Hóa Châu 41.328
- Phường Mỹ Thượng 44.736
- Phường Thuận Hóa 98.923
- Phường Thủy Xuân 43.373
- Phường Vỹ Dạ 49.684
- Xã Phú Hồ 23.550
- Xã Phú Vang 39.250
- Xã Phú Vinh 47.674
← Toàn bộ 40 xã, phường của Huế Tra tên xã cũ → mới