Tây Khánh Vĩnh là xã vùng cao thuộc tỉnh Khánh Hòa, ở phía tây vùng huyện Khánh Vĩnh cũ, được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1667/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã Giang Ly, Khánh Thượng và Khánh Nam của huyện Khánh Vĩnh cũ. Diện tích 294,3 km², dân số 7.357 người.
Tổng quan
Xã Tây Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa, mang tên phần phía tây của vùng Khánh Vĩnh cũ — huyện từng giáp Lạc Dương (Lâm Đồng) và Krông Bông (Đắk Lắk) ở phía tây. Diện tích 294,3 km², dân số 7.357 người — ít dân nhất trong năm xã kế thừa huyện Khánh Vĩnh, mật độ khoảng 25 người/km².
Ba xã cũ hợp thành có nguồn gốc khác nhau: Khánh Thượng là xã có từ khi tái lập huyện năm 1985, Khánh Nam tách từ xã Khánh Minh, còn Giang Ly là một trong bốn mảnh của xã Khánh Lê. Trụ sở xã mới đặt tại trụ sở cũ của UBND xã Khánh Thượng.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên mới chỉ vị trí. Cũng như bốn xã cùng vùng, tên xã lấy tên huyện cũ Khánh Vĩnh, thêm từ Tây để chỉ phần đất phía tây. Không xã cũ nào trong ba xã hợp thành được giữ tên.
Phân tích Hán Việt. Tây là chữ 西 — phương tây. Phần “Khánh Vĩnh” theo cách hiểu thông dụng gồm 慶 (khánh: mừng, phúc) và 永 (vĩnh: mãi mãi). Cả tên nghĩa là “phía tây Khánh Vĩnh”.
Ba tên cũ khác nhau về gốc. Khánh Thượng là một trong bảy xã gốc của huyện năm 1985; chưa tìm được văn bản giải thích tên. Khánh Nam được lập năm 1985 khi chia xã Khánh Minh. Giang Ly khác hẳn kiểu tên “Khánh …”: tên này trùng với tên thôn Giang Ly hiện còn trong xã (gộp từ hai thôn Gia Lố, Gia Rích năm 2026). Chưa tìm được nguồn giải nghĩa tên Giang Ly, nên nghĩa để ngỏ.
Trùng tên: trên cả nước không có xã phường nào khác tên Tây Khánh Vĩnh.
Địa lý
Xã nằm trong vùng huyện Khánh Vĩnh cũ, cùng các xã Khánh Vĩnh, Bắc Khánh Vĩnh, Trung Khánh Vĩnh và Nam Khánh Vĩnh. Ranh giới cụ thể với từng xã chưa được đối chiếu chắc chắn nên không nêu ở đây.
Phía tây và nam vùng huyện cũ có nhiều đỉnh núi cao từ 1.500 m đến trên 2.000 m, trong đó đỉnh Hòn Giao (2.062 m) được ghi là ngọn núi cao nhất tỉnh Khánh Hòa cũ; các nguồn đã tra chưa xác định đỉnh này thuộc riêng xã nào. Sông suối ở đây là phần thượng nguồn của sông Cái Nha Trang, đổ về sông Thác Ngựa và sông Chò. Toàn huyện cũ có 87.198,99 ha đất rừng, độ che phủ khoảng 75%.
Lịch sử
Tư liệu lịch sử hành chính huyện Khánh Sơn ghi rằng năm 1962, thời kháng chiến, năm xã Sơn Bình, Sơn Thượng, Sơn Lâm, Sơn Thành, Sơn Thái được chuyển sang huyện Vĩnh Sơn mới lập — đơn vị mà tư liệu ấy ghi là nay thuộc Khánh Vĩnh. Trước khi huyện Khánh Vĩnh được tái lập năm 1985, vùng đất này thuộc huyện Diên Khánh. Khi tái lập huyện Khánh Vĩnh năm 1985, Khánh Thượng là một trong bảy xã gốc, cùng với Khánh Lê và Khánh Minh.
- 13/9/1985 — Quyết định 230-HĐBT chia xã Khánh Lê thành bốn xã Sơn Thái, Giang Ly, Liên Sang, Cầu Bà; chia xã Khánh Minh thành Khánh Nam và Khánh Trung.
- 27/6/1989 — lập thị trấn Khánh Vĩnh làm huyện lỵ.
- 30/6/1989 — tỉnh Khánh Hòa được tái lập từ tỉnh Phú Khánh; huyện Khánh Vĩnh thuộc tỉnh Khánh Hòa.
- 9/12/1998 — lập xã Sông Cầu; huyện có một thị trấn và 13 xã cho tới năm 2025.
- 16/6/2025 — Nghị quyết 1667/NQ-UBTVQH15 nhập Giang Ly, Khánh Thượng và Khánh Nam thành xã Tây Khánh Vĩnh; xã hoạt động từ 1/7/2025.
- 2026 — HĐND xã thông qua đề án sắp xếp thôn còn năm thôn: A Xay, Giang Ly, Hòn Dù, Suối Cát, Tà Gộc.
Trong kháng chiến, vùng núi Khánh Vĩnh là căn cứ cách mạng của tỉnh; tư liệu cấp huyện kể các địa danh căn cứ như sân bay dã chiến Hòn Xã, Hòn Nhạn, Soi Mít, Hòn Dù, buôn Gia Lê, Hòn Bà và căn cứ Hòn Dữ, không nêu thuộc xã nào.
Dân cư – xã hội
7.357 người sống rải rác trên gần 300 km². Ở cấp huyện cũ, người Raglai chiếm gần một nửa dân số và người Cơ Ho nhóm T'rin khoảng 14%; số liệu riêng cho từng xã chưa được công bố.
Trước đợt sắp xếp thôn năm 2026, xã có bảy thôn; phương án được HĐND xã thông qua gộp Gia Lố và Gia Rích thành thôn Giang Ly, Suối Cát và Đa Răm thành thôn Suối Cát, A Xay với một phần Hòn Dù thành thôn A Xay; phần còn lại của Hòn Dù và thôn Tà Gộc giữ nguyên. Trụ sở UBND xã ở thôn Tà Gộc.
Kinh tế
Số liệu kinh tế riêng của xã chưa được công bố. Ở cấp huyện cũ, năm 2010 nông – lâm – thủy sản chiếm 44,36% cơ cấu kinh tế; cây trồng chính gồm lúa, ngô, mía, khoai mì, rau; bưởi da xanh là cây chủ lực mang nhãn hiệu tập thể “Bưởi da xanh Khánh Vĩnh”. Rừng huyện có trữ lượng gỗ khoảng 10 triệu m³; khoáng sản được ghi nhận là thiếc và cao lanh, chưa có nguồn nêu mỏ cụ thể trong xã.
Văn hóa
Theo mô tả về người Raglai — dân tộc đông nhất vùng huyện cũ — sau thu hoạch cả làng cúng thần Giàng và ăn mừng lúa mới; lễ bỏ mả là nghi lễ lớn dành cho người đã khuất. Nhạc cụ mã la, đàn chapi, kèn môi là nhạc cụ tiêu biểu của dân tộc này. Chưa ghi nhận di tích được xếp hạng tại riêng xã trong các nguồn đã tra.
Hành chính
Địa chỉ ghi: “thôn …, xã Tây Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa”. Thủ tục hành chính làm tại trụ sở xã ở Khánh Thượng cũ.
Bản đồ Xã Tây Khánh Vĩnh
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Tây Khánh Vĩnh được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1667/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Giang Ly | Huyện Khánh Vĩnh | Tỉnh Khánh Hòa | toàn bộ |
| Xã Khánh Nam | Huyện Khánh Vĩnh | Tỉnh Khánh Hòa | toàn bộ |
| Xã Khánh Thượng | Huyện Khánh Vĩnh | Tỉnh Khánh Hòa | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Tây Khánh Vĩnh gồm những xã cũ nào?
Ba xã Giang Ly, Khánh Thượng và Khánh Nam của huyện Khánh Vĩnh cũ.
Tên Tây Khánh Vĩnh có nghĩa là gì?
Tây (西) chỉ phần phía tây của vùng huyện Khánh Vĩnh cũ; Khánh Vĩnh thường hiểu là phúc lành lâu bền.
Xã Tây Khánh Vĩnh có những thôn nào?
Sau sắp xếp năm 2026: A Xay, Giang Ly, Hòn Dù, Suối Cát và Tà Gộc.
Trụ sở xã Tây Khánh Vĩnh ở đâu?
Tại trụ sở cũ của UBND xã Khánh Thượng.
Diện tích, dân số xã Tây Khánh Vĩnh?
294,3 km² và 7.357 người.
Cùng Huyện Khánh Vĩnh trước đây
- Xã Bắc Khánh Vĩnh 9.199
- Xã Khánh Vĩnh 11.204
- Xã Nam Khánh Vĩnh 10.271
- Xã Trung Khánh Vĩnh 7.772
← Toàn bộ 65 xã, phường của Khánh Hòa Tra tên xã cũ → mới