Giảng Võ là phường thuộc Thành phố Hà Nội, thành lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở toàn bộ phường Giảng Võ cũ và một phần các phường Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Cống Vị (quận Ba Đình cũ), Láng Hạ (quận Đống Đa cũ). Phường rộng 2,6 km², dân số 97.034 người.
Tổng quan
Năm 1481, vua Lê Thánh Tông cho dựng điện Giảng Võ ở phía tây kinh thành Thăng Long; hơn năm thế kỷ sau, tên của trường võ bị ấy là tên một phường của Thành phố Hà Nội. Phường Giảng Võ hiện nay là khu dân cư đô thị dày đặc, trải quanh các hồ Giảng Võ, Ngọc Khánh, Thành Công và dọc các trục Kim Mã, Giảng Võ, Nguyễn Chí Thanh, Láng Hạ.
Phường rộng 2,6 km², dân số 97.034 người, mật độ khoảng 37.300 người/km² – thuộc nhóm phường đông đúc nhất thủ đô. Trụ sở đặt tại số 525 phố Kim Mã. Đặc trưng dễ nhận của Giảng Võ là các khu tập thể xây trong những năm 1960–1980 (Giảng Võ, Ngọc Khánh, Thành Công) xen với cao ốc văn phòng, khách sạn trên Kim Mã, Láng Hạ, Nguyễn Chí Thanh.
Tên gọi và ý nghĩa
Tên phường kế thừa nguyên tên phường Giảng Võ cũ – phường duy nhất được nhập trọn vào đơn vị mới. Tên này vốn đã có từ trước khi thành tên phường: Giảng Võ là tên một trại trong Thập tam trại thời Lý, và nổi tiếng hơn cả là tên trường Giảng Võ – khu luyện tập võ nghệ, giảng dạy binh pháp và thao diễn quân sự của triều Lê.
Chữ Hán là 講武. Giảng 講 nghĩa là giảng giải, bàn luận, dạy; võ 武 (còn đọc vũ) là việc binh, võ nghệ, đối lại với văn 文. Ghép lại, "giảng võ" là dạy và luyện võ nghệ, bàn về binh pháp. Đây là một tên mang nghĩa chức năng rõ ràng, ít dị bản.
Theo tài liệu của Bảo tàng Hà Nội, năm 1481 vua Lê Thánh Tông cho xây điện Giảng Võ; khu vực quanh điện – gồm sân điện, trường đấu võ, trường bắn – được gọi chung là trường Giảng Võ. Các di vật tìm được cho thấy đây là trường võ bị quốc gia kéo dài từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Khu vực này nay ứng với vùng Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Khánh. Đặt cạnh Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở phía đông nam, Giảng Võ là phía "võ" trong cặp văn – võ của kinh thành Thăng Long thời Lê.
Tên Giảng Võ còn dùng cho phố Giảng Võ, hồ Giảng Võ, khu tập thể Giảng Võ và Trung tâm Triển lãm Giảng Võ (hoạt động từ 1974 đến 2016). Cả nước không có xã, phường nào khác cùng tên.
Địa lý
Phường nằm ở phía tây nam khu Ba Đình cũ, giáp phường Ngọc Hà ở phía bắc, phường Ba Đình ở phía đông bắc và phường Ô Chợ Dừa ở phía đông (ranh giới theo trục Giảng Võ – Láng Hạ); phía tây và tây nam là vùng Cầu Giấy và Láng cũ (phường Cầu Giấy, phường Láng).
Địa hình bằng phẳng, vốn là vùng ruộng trũng và đầm hồ phía tây kinh thành. Các hồ còn lại – hồ Giảng Võ và các hồ trong vùng Ngọc Khánh, Thành Công, Thủ Lệ – là dấu vết của hệ đầm ấy và nay đóng vai trò điều hòa, thoát nước cho khu dân cư. Một số phố bị chia giữa hai phường mới, như phố Linh Lang: một phía thuộc Giảng Võ, phía kia thuộc Ngọc Hà.
Lịch sử
Trường võ bị phía tây kinh thành
Đầu thời Lê, vùng phía tây Thăng Long – gồm Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Khánh ngày nay – thuộc khu vực Thập tam trại và trở thành nơi luyện tập, khảo thí, thao diễn quân sự. Năm 2022, bộ sưu tập vũ khí Ngọc Khánh gồm 111 hiện vật thời Lê, khai quật ở khu vực này, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia (Quyết định 41/QĐ-TTg). Năm 2023, Bảo tàng Hà Nội mở trưng bày chuyên đề "Giảng Võ trường và bộ sưu tập vũ khí thời Lê".
Khu ở đô thị
Sau 1954, vùng này thuộc ngoại vi phía tây nội thành. Trong khoảng thập niên 1960–1980, Nhà nước lần lượt xây các khu tập thể Giảng Võ, Thành Công, Ngọc Khánh – thuộc nhóm khu nhà ở tập thể quy mô lớn của Hà Nội thời bao cấp. Năm 1974 Triển lãm Giảng Võ được xây dựng, trở thành nơi tổ chức hội chợ, triển lãm lớn của thủ đô trong hơn 40 năm. Các phường Giảng Võ, Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Cống Vị thuộc quận Ba Đình; phường Láng Hạ thuộc quận Đống Đa.
Sắp xếp năm 2025
Theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15, phường Giảng Võ mới gồm:
- toàn bộ phường Giảng Võ (quận Ba Đình cũ);
- một phần các phường Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Cống Vị (quận Ba Đình cũ);
- một phần phường Láng Hạ (quận Đống Đa cũ).
Mô tả sắp xếp của hệ thống bản đồ còn nhắc một phần phường Cát Linh. Phần còn lại của Kim Mã, Ngọc Khánh, Cống Vị sang phường Ngọc Hà; phần còn lại của Thành Công sang phường Ô Chợ Dừa.
Dân cư – xã hội
Dân số 97.034 người trên 2,6 km² khiến Giảng Võ là một trong những phường có mật độ cao nhất Hà Nội, khoảng 37.300 người/km². Phần lớn dân cư sống trong các khu tập thể cũ, nhiều khu đã xuống cấp và nằm trong diện cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ của thành phố, cùng với các chung cư mới và nhà ở trong làng cũ Kim Mã, Thủ Lệ, Cống Vị, Ngọc Khánh.
Dân các làng trại cũ vẫn duy trì tín ngưỡng thờ thành hoàng; vùng Thủ Lệ, Ngọc Khánh có truyền thống thờ Linh Lang Đại vương. Trường học, trạm y tế, nhà văn hóa của phường kế thừa từ các phường cũ và được tổ chức theo mô hình chung của phường nội đô.
Kinh tế
Kinh tế phường là dịch vụ đô thị: văn phòng, ngân hàng, khách sạn, thương mại, ăn uống. Các trục Kim Mã, Nguyễn Chí Thanh, Láng Hạ tập trung nhiều cao ốc văn phòng và trụ sở doanh nghiệp. Khu đất Triển lãm Giảng Võ cũ (khoảng 7 ha) sau khi ngừng hoạt động năm 2016 được thành phố đưa vào quy hoạch sử dụng mới. Trong lòng các khu tập thể, kinh tế hộ gia đình – cửa hàng nhỏ, quán ăn, dịch vụ sửa chữa – vẫn là sinh kế quen thuộc.
Văn hóa – di tích
- Đền Voi Phục (số 306B Kim Mã), cạnh công viên Thủ Lệ, là một trong "Thăng Long tứ trấn", trấn giữ phía tây kinh thành, thờ Linh Lang Đại vương – theo truyền thuyết là hoàng tử thời Lý có công đánh giặc. Sau sắp xếp, đền thuộc phường Giảng Võ.
- Công viên Thủ Lệ liền kề đền, nơi đặt vườn thú Hà Nội quanh hồ Thủ Lệ, trên đất làng Thủ Lệ – một trại trong Thập tam trại.
- Hồ Giảng Võ và vùng di chỉ trường Giảng Võ thời Lê, gắn với bộ sưu tập vũ khí Ngọc Khánh (bảo vật quốc gia).
Đời sống văn hóa thường ngày của phường gắn với các khu tập thể: chợ cóc, quán phở, bún đầu ngõ, sân chơi chung quanh hồ – một kiểu không gian sống đặc trưng của Hà Nội nửa sau thế kỷ XX còn giữ được ở đây.
Giao thông
Phường nằm trên trục giao thông phía tây nội đô: Kim Mã – Nguyễn Chí Thanh, Giảng Võ – Láng Hạ, Đào Tấn, Huỳnh Thúc Kháng, Liễu Giai. Đây là các tuyến đông xe giờ cao điểm, nối trung tâm Ba Đình với vùng Cầu Giấy, Láng và Thanh Xuân. Nhiều tuyến xe buýt nội đô chạy qua địa bàn.
Hành chính
Địa chỉ mới ghi: "…, phường Giảng Võ, Thành phố Hà Nội". Cư dân phường Giảng Võ cũ ghi trọn theo phường mới; cư dân Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Cống Vị, Láng Hạ cũ cần kiểm tra tổ dân phố vì các phường này được chia cho nhiều phường mới. Thủ tục hành chính thực hiện tại trung tâm phục vụ hành chính công của phường hoặc qua cổng dịch vụ công.
Bản đồ Phường Giảng Võ
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Giảng Võ được lập từ 7 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Phường Giảng Võ | Quận Ba Đình | Thành phố Hà Nội | toàn bộ |
| Phường Kim Mã | Quận Ba Đình | Thành phố Hà Nội | một phần |
| Phường Ngọc Khánh | Quận Ba Đình | Thành phố Hà Nội | một phần |
| Phường Thành Công | Quận Ba Đình | Thành phố Hà Nội | một phần |
| Phường Cống Vị | Quận Ba Đình | Thành phố Hà Nội | một phần |
| Phường Láng Hạ | Quận Đống Đa | Thành phố Hà Nội | một phần |
| Phường Cát Linh | Quận Đống Đa | Thành phố Hà Nội | một phần |
Hỏi đáp nhanh
Phường Giảng Võ mới gồm những phường cũ nào?
Toàn bộ phường Giảng Võ và một phần các phường Kim Mã, Ngọc Khánh, Thành Công, Cống Vị (quận Ba Đình cũ), Láng Hạ (quận Đống Đa cũ), theo Nghị quyết 1656/NQ-UBTVQH15.
Tên Giảng Võ có nghĩa là gì?
Giảng Võ (講武) nghĩa là dạy, luyện võ nghệ và bàn binh pháp: giảng 講 là giảng dạy, võ 武 là việc binh. Tên gắn với trường Giảng Võ – trường võ bị của triều Lê ở phía tây kinh thành, có điện Giảng Võ do vua Lê Thánh Tông xây năm 1481.
Đền Voi Phục thuộc phường nào?
Đền Voi Phục (306B Kim Mã), một trong Thăng Long tứ trấn, sau sắp xếp năm 2025 thuộc phường Giảng Võ, Thành phố Hà Nội.
Diện tích, dân số phường Giảng Võ là bao nhiêu?
Diện tích 2,6 km², dân số 97.034 người (số liệu sắp xếp năm 2025).
Trụ sở phường Giảng Võ ở đâu?
Tại số 525 phố Kim Mã, phường Giảng Võ.
Cùng Quận Ba Đình, Quận Đống Đa trước đây
- Phường Ba Đình 65.023
- Phường Bạch Mai 129.571
- Phường Đống Đa 81.358
- Phường Hoàn Kiếm 105.301
- Phường Hồng Hà 123.282
- Phường Kim Liên 109.107
- Phường Láng 61.135
- Phường Ngọc Hà 93.536
- Phường Ô Chợ Dừa 71.293
- Phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám 105.604
← Toàn bộ 126 xã, phường của Hà Nội Tra tên xã cũ → mới