Mường Khiêng là xã thuộc tỉnh Sơn La, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1681/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã Liệp Tè, Bó Mười và Mường Khiêng của huyện Thuận Châu cũ. Diện tích 204,2 km², dân số 24.570 người.
Tổng quan
Mường Khiêng là một xã của tỉnh Sơn La, chiếm góc đông bắc vùng Thuận Châu cũ, tiếp giáp vùng Mường La cũ và các phường trung tâm tỉnh. Xã mới gồm ba xã: Mường Khiêng (67,59 km², 10.243 người), Bó Mười (64,57 km², 9.792 người) và Liệp Tè (72,04 km², 4.535 người). Trụ sở Đảng ủy, HĐND và UBND xã đặt tại bản Khiêng.
Với diện tích 204,2 km² và dân số 24.570 người (mật độ khoảng 120 người/km²), Mường Khiêng là xã đông dân thứ hai trên địa bàn Thuận Châu cũ, sau xã trung tâm Thuận Châu. Wikipedia dẫn số liệu đến 31/12/2024 là 204,705 km² và 24.741 người — chênh nhỏ so với số liệu đề án sắp xếp.
Xã có 48 bản, 10 đơn vị trường học (3 mầm non, 4 tiểu học, 1 THCS, 2 liên cấp tiểu học – THCS), một trạm y tế và một đơn vị công an xã. Kinh tế dựa vào cà phê, lúa nước và chăn nuôi.
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: xã mới giữ tên xã Mường Khiêng — xã đông dân nhất trong ba xã hợp thành. Trụ sở xã đặt tại bản Khiêng, bản mang cùng thành tố “Khiêng” với tên mường. Tên Bó Mười và Liệp Tè không còn là tên xã nhưng còn sống trong tên bản (bản Mười, bản Bó).
Không phải tên Hán Việt. Cả “mường” lẫn “khiêng” đều không có âm Hán Việt (tra âm “mường”, tra âm “khiêng” trên Wiki Ngôn Ngữ). Không nên hiểu “khiêng” theo nghĩa tiếng Việt (khiêng vác) — đây là âm tiếng Thái được ghi bằng chữ Quốc ngữ, trùng hình thức với một từ tiếng Việt.
Thành tố “Mường”: “mường” (muang, mueang) là đơn vị lãnh thổ truyền thống của các dân tộc ngữ hệ Tai – Kadai, gồm nhiều bản đặt dưới một trung tâm; tại Việt Nam nó không còn là cấp hành chính nhưng vẫn còn trong tên đơn vị cư trú. Tên Mường Khiêng cho thấy vùng này từng là một mường có tên riêng trong hệ thống mường của người Thái vùng Mường Muổi (Thuận Châu).
Thành tố “Khiêng”: nghĩa của “khiêng” trong tiếng Thái ở địa danh này chưa tìm được nguồn giải thích đáng tin; các cách giảng nghĩa truyền miệng chưa thống nhất nên không nêu ở đây.
Trùng tên: không có đơn vị cấp xã nào khác trong cả nước mang tên Mường Khiêng. Cần phân biệt với xã Chiềng Khương (vùng Sông Mã) có tên gần giống.
Địa lý
Theo Wikipedia tiếng Việt, xã giáp Chiềng Lao và Mường La ở phía bắc; phường Chiềng An ở phía nam; Mường Bú ở phía đông; Mường Sại và Chiềng La ở phía tây. Như vậy Mường Khiêng nằm ở chỗ tiếp giáp giữa ba vùng cũ: Thuận Châu, Mường La và thành phố Sơn La.
Về thủy văn, nhiều dòng suối của xã chảy về sông Đà. Theo Wikipedia (bài Nậm Ty), có một dòng suối Muội bắt nguồn từ vùng Mường Khiêng và Bó Mười, chảy về hướng tây bắc qua Mường Sại rồi đổ vào sông Đà ở vùng Chiềng Bằng (Quỳnh Nhai cũ). Dòng này khác với suối Muội chảy qua trung tâm Thuận Châu; hai suối cách nhau chừng 10 km đường chim bay nhưng chảy ngược hướng — một về sông Đà, một về sông Mã.
Địa hình đồi núi trung bình xen thung lũng. Năm 2026 xã đang thi công điểm tái định cư Tèn Pá Hu (bản Ta Mạ, thuộc xã Liệp Tè cũ), công trình di dân nhằm bảo đảm điều kiện sinh sống an toàn và ổn định đời sống cho người dân.
Lịch sử
Mường Khiêng nằm trong vùng Mường Muổi — tên người Thái Đen gọi Thuận Châu — do dòng họ Bạc (Bạc Cầm) làm phụ đạo thời Lê – Nguyễn. Cùng huyện, địa bàn thuộc tỉnh Vạn Bú (1895), tỉnh Sơn La (1904), Khu tự trị Thái – Mèo (1955) và huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La từ 1962.
Danh sách xã của huyện Thuận Châu năm 2002 có cả Liệp Tè lẫn Liệp Muội. Ngày 2/12/2003, sáu xã phía bắc của Thuận Châu — Mường Giàng, Chiềng Bằng, Mường Sại, Liệp Muội, Nậm Ét, Chiềng Khoang — với 25.911 ha và 26.659 người được chuyển sang huyện Quỳnh Nhai. Liệp Tè, Bó Mười và Mường Khiêng ở lại Thuận Châu và từ đó là vùng giáp ranh với Quỳnh Nhai.
Ngày 16/6/2025, căn cứ Đề án 346/ĐA-CP ngày 9/5/2025 của Chính phủ, Nghị quyết 1681/NQ-UBTVQH15 sắp xếp toàn bộ ba xã Liệp Tè, Bó Mười và Mường Khiêng thành xã Mường Khiêng, hoạt động từ 1/7/2025. Sau sắp xếp, các công trình dở dang của xã cũ như điểm tái định cư Tèn Pá Hu được chuyển cho xã mới tiếp tục quản lý.
Dân cư và xã hội
Dân số 24.570 người, phân bố trong 48 bản: Ban Xa, Bắc, Bon, Bó, Bó Phúc, Cang, Chà Lào, Co Phết, Co Phường, Củ, Hiên, Hin Lẹp, Hốc, Hốc Quỳnh, Hua Sát, Huổi Pản, Kềm, Khiêng, Kia, Lạn, Lót Măn, Lọng Cu, Lụ, Lứa B, Lứa Hang, Mồng Luông, Mồng Nọi, Mười, Nam Han, Nà Sành, Nà Ten, Nà Viềng, Nhốc, Nong Bon, Nuống Há, Phai Xe, Phé Hằng, Pục Tứn, Sát, Sào Và, Sinh Lẹp, Tát, Tát Ướt, Tạ Mạ, Thông Ỏ, Thuận Ơn, Tộn Pợ, Tra.
Thành phần dân tộc theo số liệu cấp huyện cũ: người Thái chiếm đa số, tiếp đến người Mông, Kinh, Kháng, La Ha, Khơ Mú.
Mạng lưới giáo dục gồm 10 trường từ mầm non đến THCS. Năm 2026 xã đón đoàn kiểm tra làm việc về xây dựng xã hội học tập và phổ cập giáo dục.
Kinh tế
Cà phê là cây trồng hàng hóa chủ lực. Tháng 10/2026, xã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông và Chuyển đổi số tỉnh tập huấn khảo sát, thu thập dữ liệu vùng trồng cà phê bằng điện thoại thông minh — xác định tọa độ, ranh giới từng vườn, lô — để đáp ứng Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Chăn nuôi đang được đa dạng hóa: cũng tháng 10/2026, tại bản Mười, xã bàn giao 500 con giống gà H'Mông đen cho 5 hộ tham gia mô hình nuôi thương phẩm, phối hợp với doanh nghiệp cung ứng giống. Lúa nước ở các thung lũng, ngô, sắn trên nương và kinh tế rừng bổ sung thu nhập. Vị trí sát phường Chiềng An giúp nông sản dễ đi vào thị trường trung tâm tỉnh.
Văn hóa
Văn hóa xã mang đặc trưng Thái Đen vùng Mường Muổi: nhà sàn, ruộng nước, dân ca, múa xòe. Thuận Châu nằm trong danh sách địa bàn thực hành của Nghệ thuật Xòe Thái, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh ngày 15/12/2021. Đồng bào Mông, Kháng, La Ha trong vùng giữ phong tục, lễ tết riêng.
Các nguồn tra được chưa ghi nhận di tích được xếp hạng trên địa bàn xã. Tổ chức đoàn thể như Hội Liên hiệp Phụ nữ duy trì các buổi sinh hoạt, tọa đàm nhân các ngày kỷ niệm.
Hành chính
Địa chỉ ghi dạng “Bản …, xã Mường Khiêng, tỉnh Sơn La”; người dân các xã cũ Liệp Tè, Bó Mười nay đều ghi xã Mường Khiêng. Thủ tục hành chính giải quyết tại UBND xã, trụ sở bản Khiêng.
Bản đồ Xã Mường Khiêng
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Mường Khiêng được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1681/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Liệp Tè | Huyện Thuận Châu | Tỉnh Sơn La | toàn bộ |
| Xã Bó Mười | Huyện Thuận Châu | Tỉnh Sơn La | toàn bộ |
| Xã Mường Khiêng | Huyện Thuận Châu | Tỉnh Sơn La | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Mường Khiêng mới gồm những xã cũ nào?
Gồm toàn bộ ba xã Liệp Tè, Bó Mười và Mường Khiêng của huyện Thuận Châu cũ, theo Nghị quyết 1681/NQ-UBTVQH15, hoạt động từ 1/7/2025.
Tên Mường Khiêng có nghĩa là gì?
Là địa danh gốc tiếng Thái, không phải Hán Việt. “Mường” là đơn vị lãnh thổ truyền thống gồm nhiều bản; nghĩa của “Khiêng” chưa có nguồn giải thích thống nhất.
Xã Liệp Tè có liên quan gì đến xã Liệp Muội?
Cả hai từng thuộc huyện Thuận Châu. Năm 2003 Liệp Muội được chuyển sang huyện Quỳnh Nhai, còn Liệp Tè ở lại Thuận Châu và năm 2025 nhập vào xã Mường Khiêng.
Xã Mường Khiêng giáp những đâu?
Bắc giáp Chiềng Lao và Mường La, nam giáp phường Chiềng An, đông giáp Mường Bú, tây giáp Mường Sại và Chiềng La (theo Wikipedia).
Diện tích và dân số xã Mường Khiêng?
Diện tích 204,2 km², dân số 24.570 người theo số liệu sắp xếp năm 2025.
Cùng Huyện Thuận Châu trước đây
- Xã Bình Thuận 17.128
- Xã Chiềng La 20.373
- Xã Co Mạ 14.560
- Xã Long Hẹ 8.473
- Xã Muổi Nọi 15.633
- Xã Mường Bám 10.731
- Xã Mường É 14.858
- Xã Nậm Lầu 18.095
- Xã Thuận Châu 46.958
← Toàn bộ 75 xã, phường của Sơn La Tra tên xã cũ → mới