Hương Đô là xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh, ở phía đông nam vùng Hương Khê cũ, được lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở ba xã Hương Đô, Hương Trà và Lộc Yên. Diện tích 140,83 km², dân số 14.287 người.
Tổng quan
Xã Hương Đô (tỉnh Hà Tĩnh) có ba con sông Ngàn Sâu, Rào Nại và Tiêm chảy qua, chia đất thành nhiều khu vực dân cư. Xã hợp từ Hương Đô, Hương Trà và Lộc Yên, giữ tên Hương Đô nhưng đặt trụ sở tại trụ sở UBND xã Hương Trà cũ.
Diện tích 140,83 km², dân số 14.287 người, mật độ khoảng 101 người/km². Ba xã cũ mang ba dấu ấn khác nhau: Hương Đô và Lộc Yên nằm trong nhóm bốn xã được Wikipedia ghi là nơi trồng bưởi Phúc Trạch tập trung; Hương Trà là đất nông trường chè 20 tháng 4; còn Lộc Yên gắn với hầm Lộc Yên trên tuyến Trường Sơn Đông thời chống Mỹ.
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: xã mới kế thừa tên xã Hương Đô cũ — tên có sau năm 1945, khi huyện Hương Khê bỏ cấp tổng và cả 37 xã của huyện đều có tên mở đầu bằng “Hương”. Hương Đô giữ nguyên qua đợt hợp xã năm 1971 và có mặt trong danh sách 24 xã của huyện năm 1976. Chưa tìm được văn bản giải thích lý do chọn tên Hương Đô cho xã mới, ngoài việc đây là tên một trong ba xã hợp thành.
Chữ Hán: Wikipedia tiếng Trung ghi tên xã là 香都社. Chữ 香 (hương) là thơm; chữ 都 (đô) là kinh đô, nơi đô hội. Trong từ điển chữ Hán Nôm, âm đô gần như chỉ ứng với chữ 都.
Tên các xã cũ:
- Lộc Yên — đặt năm 1971 khi hợp Hương Lộc và Hương Yên, mỗi xã góp một chữ (Quyết định 167/QĐ-TTg). Wikipedia tiếng Trung ghi 禄安 — chữ 祿 là bổng lộc, chữ 安 là yên ổn.
- Hương Trà — tên xã lập năm 2004 trên đất thị trấn nông trường 20 tháng 4. Wikipedia tiếng Trung ghi 香茶; chữ 茶 là chè, trà. Chưa tìm được văn bản giải thích lý do đặt tên.
Trùng tên: không có xã phường nào khác tên Hương Đô. Tên xã cũ Hương Trà trùng với phường Hương Trà ở TP Huế và ở TP Đà Nẵng — khi tra tài liệu cũ cần phân biệt.
Địa lý
Theo Wikipedia, xã giáp Hương Phố ở phía bắc, Phúc Trạch ở phía nam, Thạch Xuân và Cẩm Duệ ở phía đông, Hương Khê và Hương Xuân ở phía tây.
Sông Ngàn Sâu, phụ lưu chính của sông La (dài khoảng 131 km), chảy qua theo hướng bắc; sông Tiêm là một phụ lưu của Ngàn Sâu. Mùa lũ của Ngàn Sâu ngắn, từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm khoảng 56–57% lượng dòng chảy cả năm. Huyện Hương Khê cũ có địa hình nhiều đồi núi, đất phần lớn là feralit núi.
Lịch sử
Đất xã thuộc huyện Hương Khê từ năm 1867. Theo bài Wikipedia về xã Phúc Trạch, thời 1946–1954 phần lớn vùng này nằm trong xã Hương Lĩnh lớn, gồm các làng La Khê, Phúc Hội, Phúc Trạch, Can Hợi, Đô Khê, Chúc A, Vĩnh Cư.
- 11/6/1971 — Quyết định 167/QĐ-TTg hợp Hương Lộc và Hương Yên thành xã Lộc Yên.
- 23/2/1977 — lập thị trấn nông trường 20 tháng 4 (Quyết định 56-BT).
- 2/1/2004 — Nghị định 09/2004/NĐ-CP giải thể thị trấn nông trường, lập xã Hương Trà với 1.513 ha và 2.437 nhân khẩu.
- 1/7/2025 — Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 sắp xếp toàn bộ Lộc Yên, Hương Trà và Hương Đô thành xã Hương Đô.
Năm 1885 vua Hàm Nghi đến sơn phòng ở Hương Khê và xuống chiếu Cần Vương lần thứ hai; huyện sau đó là địa bàn chính của khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896) do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Theo Báo Hà Tĩnh, trong kháng chiến chống Mỹ, đường Trường Sơn Đông qua Hương Khê nổi tiếng với phà Địa Lợi, hầm Lộc Yên và Bộ Chỉ huy Binh đoàn 559.
Dân cư và xã hội
Xã có 14.287 người. Dân cư Hương Trà gắn với nông trường 20 tháng 4, từng là một thị trấn nông trường trong gần ba mươi năm (1977–2004). Theo Wikipedia, huyện Hương Khê cũ có các dân tộc Kinh (đa số), Thổ, Thái và Chứt; khoảng 27,87% dân số theo Công giáo. Trong xã có giáo xứ Tràng Lưu.
Mỗi xã cũ có trường học các cấp cơ sở và trạm y tế.
Kinh tế
Theo Wikipedia, bưởi Phúc Trạch được trồng tập trung chủ yếu ở bốn xã Phúc Trạch, Hương Trạch, Hương Đô và Lộc Yên. Cả ba xã cũ Hương Đô, Lộc Yên và Hương Trà đều có tên trong danh sách 19 xã thuộc vùng chỉ dẫn địa lý; năm 2022 toàn vùng có 2.714 ha bưởi, sản lượng hơn 23.000 tấn. Cũng theo Wikipedia, bưởi Phúc Trạch từng được thưởng mề đay ở cuộc đấu xảo quả ngon toàn Đông Dương năm 1938, và năm 2002 được đưa vào danh sách bảy cây ăn quả quý hiếm cấm xuất khẩu giống.
Nét riêng của xã là chè. Theo Báo Hà Tĩnh (2026), tại thôn Hương Trà có đồi chè công nghiệp khoảng 150 ha, liên kết với Xí nghiệp Chè 20/4, trồng từ khoảng năm 2000. “Chè xanh Hương Trà” được Wikipedia kể trong danh sách đặc sản của Hương Khê. Ngoài ra là lúa, ngô, keo, cao su và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà.
Văn hóa
Báo Hà Tĩnh giới thiệu đồi chè Hương Trà như một điểm “check-in” mới ở phía tây tỉnh. Theo bài Wikipedia về xã, trên địa bàn có giáo xứ Tràng Lưu và một ngôi đền cổ thờ ba vị danh thần thời Lý; nguồn này không ghi tên đền.
Hành chính
Từ 1/7/2025, địa chỉ trong xã ghi theo mẫu: [thôn], xã Hương Đô, tỉnh Hà Tĩnh. Trụ sở xã đặt ở khu trụ sở xã Hương Trà cũ, không phải ở trụ sở Hương Đô cũ như tên xã dễ khiến người ta nghĩ.
Bản đồ Xã Hương Đô
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Hương Đô được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Hương Đô | Huyện Hương Khê | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
| Xã Hương Trà | Huyện Hương Khê | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
| Xã Lộc Yên | Huyện Hương Khê | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Hương Đô mới gồm những xã cũ nào?
Ba xã Hương Đô, Hương Trà và Lộc Yên của huyện Hương Khê cũ, theo Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15, hiệu lực từ 1/7/2025. Trụ sở đặt tại trụ sở xã Hương Trà cũ.
Tên Hương Đô có nghĩa là gì?
Wikipedia tiếng Trung ghi 香都: hương là thơm, đô là kinh đô, nơi đô hội. Tên có sau năm 1945.
Xã Hương Trà cũ có từ khi nào?
Từ năm 2004, lập trên đất thị trấn nông trường 20 tháng 4 (có từ 1977), theo Nghị định 09/2004/NĐ-CP.
Đồi chè Hương Trà rộng bao nhiêu?
Khoảng 150 ha, liên kết với Xí nghiệp Chè 20/4, theo Báo Hà Tĩnh năm 2026.
Diện tích và dân số xã Hương Đô là bao nhiêu?
140,83 km², 14.287 người.
Cùng Huyện Hương Khê trước đây
- Xã Hà Linh 12.622
- Xã Hương Bình 17.530
- Xã Hương Khê 29.994
- Xã Hương Phố 18.633
- Xã Hương Xuân 17.422
- Xã Phúc Trạch 18.135
← Toàn bộ 69 xã, phường của Hà Tĩnh Tra tên xã cũ → mới