Hải Ninh là phường ven biển của tỉnh Hà Tĩnh, thuộc vùng thị xã Kỳ Anh cũ, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở phường Kỳ Ninh, xã Kỳ Hà và xã Kỳ Hải. Diện tích 39,37 km², dân số 20.399 người; trên địa bàn có đền Chế Thắng phu nhân, di tích quốc gia.
Tổng quan
Phường nằm ở vùng cửa biển phía đông Kỳ Anh — nơi Báo Hà Tĩnh gọi là Hải Khẩu, một trong sáu cửa biển của Đại Việt xưa; sông Trí chảy qua thị xã cũ, nối với sông Vịnh rồi ra biển. Trên cồn cát bên bờ sông Vịnh là đền Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia, điểm đầu tiên trong lễ cầu ngư của ngư dân Kỳ Ninh.
Phường rộng 39,37 km², dân số 20.399 người, mật độ khoảng 520 người/km². Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND phường đặt tại trụ sở UBND phường Kỳ Ninh cũ. Thành phần gồm phường Kỳ Ninh và xã Kỳ Hà (thị xã Kỳ Anh cũ), xã Kỳ Hải (huyện Kỳ Anh cũ).
Tên gọi và ý nghĩa
Nguồn gốc: “Hải Ninh” là tên ghép, lấy chữ sau của Kỳ Hải và chữ sau của Kỳ Ninh — hai trong ba đơn vị hợp thành; chữ “Kỳ” chung của cả ba được bỏ. Xã Kỳ Hà không góp chữ vào tên; Kỳ Hà vốn tách từ Kỳ Hải năm 1977.
Phân tích Hán Việt: “Hải” là 海 — biển; “Ninh” là 寧 — yên ổn, an lành (như “an ninh”, “khang ninh”). Theo mặt chữ, Hải Ninh 海寧 nghĩa là “biển yên”.
Lịch sử các tên cũ: Kỳ Hải đổi tên từ xã Trung Hải năm 1954; năm 1954 xã Lĩnh Nam chia thành Kỳ Ninh và Kỳ Thọ; Kỳ Hà lập năm 1977 khi tách từ Kỳ Hải. Trước năm 1945, vùng Kỳ Ninh gồm các làng Đồng Nghĩa, Hải Khẩu, Tân Yên, Thuận Định, Vĩnh Lộc, Xuân Chữ, Yên Điềm.
Trùng tên: sau 1/7/2025 còn xã Hải Ninh (Quảng Ninh) và xã Hải Ninh (Lâm Đồng). Khi viết địa chỉ cần ghi “phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh”.
Địa lý
Phía bắc và phía tây giáp xã Kỳ Khang; phía đông là Biển Đông; phía nam giáp phường Sông Trí và phường Vũng Áng.
Địa hình cồn cát ven biển và vùng cửa sông: sông Trí, sông Quyến, sông Vịnh và dấu vết kênh nhà Lê chảy qua phường rồi đổ ra biển ở vùng cửa Khẩu. Phường có bãi biển Kỳ Ninh. Báo Hà Tĩnh ghi Kỳ Anh xưa bị gọi là vùng “ống gió, chảo lửa, túi mưa”; theo mô tả khí hậu chung của tỉnh, tháng 4–10 có gió Lào khô nóng, bão tập trung cuối tháng 7 đến tháng 10.
Lịch sử
Thời Trần – Lê: năm 1377, quý phi Nguyễn Thị Bích Châu theo vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành và tử trận; linh cữu đưa về bằng đường biển gặp bão ở cửa biển Kỳ Ninh, được an táng và lập miếu thờ tại đây. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông trên đường đánh Chiêm Thành dừng ở cửa biển này, đề bốn chữ “Nữ trung hào kiệt”, sau đó hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và phong bà là Chế Thắng phu nhân.
Kênh nhà Lê — tuyến đường thủy nối kinh đô Hoa Lư với Đèo Ngang — đi qua địa bàn; Wikipedia ghi đây là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Trong kháng chiến, đội du kích Hải Khẩu là đơn vị được nhắc tới trong lịch sử địa phương.
- Sau 1945 — Trung Hải, Lĩnh Nam là hai trong 15 xã của huyện Kỳ Anh.
- 1954 — xã Trung Hải đổi tên Kỳ Hải; Lĩnh Nam chia thành Kỳ Ninh và Kỳ Thọ.
- 23/2/1977 — Quyết định 619-VP18 của Phủ Thủ tướng chia Kỳ Hải thành Kỳ Hà và Kỳ Hải.
- 2015 — Kỳ Ninh, Kỳ Hà về thị xã Kỳ Anh; Kỳ Hải ở lại huyện Kỳ Anh.
- 1/1/2025 — xã Kỳ Ninh (21,78 km², 9.833 người) lên phường.
- 1/7/2025 — khoản 65 Điều 1 Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 nhập phường Kỳ Ninh, xã Kỳ Hà, xã Kỳ Hải thành phường Hải Ninh.
Dân cư – xã hội
20.399 người trên 39,37 km². Các nguồn đã tra chưa công bố số liệu dân tộc, tôn giáo riêng cho phường mới. Theo Cổng thông tin Hà Tĩnh, ngoài lễ hội đền Chế Thắng phu nhân, cư dân Kỳ Ninh còn giữ các nghi thức lễ cầu ngư, lễ thay khoán, lễ tế thần cá Voi ở các di tích như đền thờ Sát Hải tướng quân, miếu thờ cá Ông.
Kinh tế
Tư liệu về huyện Kỳ Anh ghi hai làng nghề trên địa bàn: nước mắm ở Kỳ Ninh và làm muối ở Kỳ Hà. Nước mắm có trong danh sách sản phẩm OCOP của vùng Kỳ Anh do Báo Hà Tĩnh nêu. Quanh đền Chế Thắng phu nhân có các hộ kinh doanh hàng quán trước cổng khu di tích.
Văn hóa – di tích
- Đền Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu (còn gọi đền Hải Khẩu, đền Bà Hải) — trên cồn cát bên sông Vịnh, khuôn viên khoảng 2,6 ha; di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 1991. Lễ giỗ, lễ hội kéo dài từ ngày 9 đến 12 tháng Hai âm lịch, có thả hoa đăng trên sông Vịnh; năm 2026 là lần giỗ thứ 649.
- Lễ cầu ngư Kỳ Ninh — tổ chức tại bốn điểm, khởi đầu ở đền Chế Thắng phu nhân, tiếp theo là miếu Sát Hải, rồi lễ cúng ngoài khơi và ven bờ.
- Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh và hát sắc bùa — sinh hoạt văn nghệ dân gian chung của vùng Kỳ Anh (trong đó có hát ví Đan Du — làng Đan Du thuộc xã Kỳ Khang lân cận).
Du lịch
Báo Hà Tĩnh nêu hai bãi biển của vùng thị xã Kỳ Anh cũ là Kỳ Ninh và Mũi Đao – Hoành Sơn. Lễ hội đền Chế Thắng phu nhân diễn ra từ ngày 9 đến 12 tháng Hai âm lịch.
Bản đồ Phường Hải Ninh
Ghim đặt tại vị trí trụ sở phường. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Phường Hải Ninh được lập từ 3 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1665/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Kỳ Hà | Thị xã Kỳ Anh | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
| Phường Kỳ Ninh | Thị xã Kỳ Anh | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
| Xã Kỳ Hải | Huyện Kỳ Anh | Tỉnh Hà Tĩnh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Phường Hải Ninh gồm những đơn vị cũ nào?
Phường Kỳ Ninh, xã Kỳ Hà (thị xã Kỳ Anh cũ) và xã Kỳ Hải (huyện Kỳ Anh cũ).
Tên Hải Ninh có nghĩa là gì?
Ghép từ Kỳ Hải và Kỳ Ninh; Hải 海 là biển, Ninh 寧 là yên ổn — “biển yên”.
Đền Chế Thắng phu nhân ở đâu?
Trên cồn cát bên sông Vịnh, vùng Kỳ Ninh cũ, nay thuộc phường Hải Ninh; di tích quốc gia từ năm 1991, lễ hội 9–12 tháng Hai âm lịch.
Có phường, xã Hải Ninh nào khác không?
Có xã Hải Ninh ở Quảng Ninh và ở Lâm Đồng; cần ghi kèm tỉnh Hà Tĩnh.
Phường Hải Ninh rộng bao nhiêu?
39,37 km², dân số 20.399 người.
Cùng Thị xã Kỳ Anh, Huyện Kỳ Anh trước đây
- Phường Hoành Sơn 21.004
- Phường Sông Trí 37.314
- Phường Vũng Áng 21.339
- Xã Kỳ Anh 32.689
- Xã Kỳ Hoa 16.045
- Xã Kỳ Khang 23.771
- Xã Kỳ Lạc 12.865
- Xã Kỳ Thượng 15.822
- Xã Kỳ Văn 17.700
- Xã Kỳ Xuân 23.574
← Toàn bộ 69 xã, phường của Hà Tĩnh Tra tên xã cũ → mới