Quảng La là xã thuộc Thành phố Quảng Ninh, lập ngày 1/7/2025 theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 trên cơ sở bốn xã Bằng Cả, Dân Chủ, Tân Dân và Quảng La ở phía tây vùng Hoành Bồ cũ. Xã rộng 165,67 km², dân số 9.183 người.
Tổng quan
Xã Quảng La nằm ở góc tây bắc của vùng Hoành Bồ cũ, nơi đồi núi phía bắc Hạ Long tiếp giáp vùng Uông Bí, Quảng Yên và vùng Sơn Động cũ (nay thuộc Bắc Ninh). Xã thuộc Thành phố Quảng Ninh và được hợp thành từ trọn vẹn bốn xã cũ cùng thuộc huyện Hoành Bồ trước năm 2020: Bằng Cả, Dân Chủ, Tân Dân và Quảng La.
Quy mô xã: 165,67 km², 9.183 người, mật độ khoảng 55 người/km². Đây là một xã thuần nông – lâm vùng đồi, dân cư thưa, ruộng nằm trong các thung lũng hẹp giữa những dải đồi trồng rừng. Trụ sở Đảng ủy, HĐND, UBND xã đặt tại trụ sở xã Quảng La cũ.
Bốn xã hợp thành vốn đã gắn bó với nhau từ trước: Quảng La từng là một phần của xã Bằng Cả cho tới năm 1959. Việc gộp năm 2025 vì vậy phần nào khôi phục lại một không gian làng xã đã từng chung một đơn vị.
Tên gọi và ý nghĩa
Xã mới lấy tên xã Quảng La — xã cũ đặt trụ sở chung. Đây là một tên làng có lịch sử dài: theo danh mục hành chính năm 1836, huyện Hoành Bồ có tổng Trí Xuyên gồm các xã Trí Xuyên, Quảng La, Tân Ốc, Kênh Trạo, Dương Hưu và phường Nam Giang; huyện lỵ Hoành Bồ khi ấy cũng đặt ở xã Trí Xuyên. Như vậy Quảng La thuộc vùng lõi hành chính của huyện Hoành Bồ thời Nguyễn. Sau Cách mạng, Quảng La có thời gian nằm trong xã Bằng Cả; năm 1959 xã Bằng Cả được chia, tên Quảng La trở lại thành tên một xã riêng.
Phân tích chữ
Từ điển Wiki Ngôn Ngữ có mục Quảng La ghi đây là tên một xã của huyện Hoành Bồ. Với âm Quảng, chữ thường dùng trong địa danh là 廣 (rộng, lớn, mở rộng) — như trong Quảng Yên, Quảng Ninh. Âm La có nhiều chữ; trong địa danh Việt thường gặp chữ 羅 (nghĩa gốc là lưới bắt chim, mở rộng thành bày ra, giăng khắp). Nếu đúng là 廣羅 thì tên có thể hiểu là “trải rộng, bày khắp”, nhưng chưa tra được bản chữ Hán của tên xã này, nên đây chỉ là cách đọc thường gặp, không phải kết luận.
Tên các xã hợp thành
Bằng Cả là tên không có dạng Hán Việt rõ ràng, nhiều khả năng là tên Nôm hoặc phiên từ tiếng địa phương, nghĩa chưa được giải thích trong tài liệu tra được. Dân Chủ và Tân Dân (dân mới) là kiểu tên xã mang tinh thần thời kỳ sau năm 1945, phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc.
Trên cả nước hiện chỉ Quảng Ninh có xã mang tên Quảng La.
Địa lý
Theo mô tả ranh giới sau sắp xếp, xã Quảng La giáp địa phận Bắc Ninh (vùng Sơn Động cũ) ở phía bắc; phường Hoành Bồ và xã Lương Minh ở phía đông; phường Vàng Danh ở phía tây; phía nam là các phường Đông Mai và Tuần Châu.
Địa hình là đồi núi thấp và trung bình thuộc sườn nam của cánh cung núi phía bắc Quảng Ninh, cao dần về phía bắc và tây bắc. Các dòng suối từ vùng đồi chảy về phía nam, đổ vào hệ thống sông suối ven vịnh Cửa Lục. Đất chủ yếu là đất đồi feralit, thích hợp trồng rừng và cây lâu năm; ruộng lúa nằm ở các dải thung lũng ven suối.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh hơn vùng ven biển do nằm sâu trong nội địa và chịu gió mùa đông bắc; mùa hè mưa nhiều.
Lịch sử
Địa bàn Quảng La thuộc huyện Hoành Bồ từ khi huyện được định danh thời Lê (1469). Thời Nguyễn, làng Quảng La thuộc tổng Trí Xuyên — tổng đặt huyện lỵ. Qua các giai đoạn kháng chiến, huyện Hoành Bồ thuộc tỉnh Quảng Yên, Đặc khu Hòn Gai (1949), khu Hồng Quảng (1955) rồi tỉnh Quảng Ninh (1963).
Năm 1959, xã Bằng Cả được chia thành hai xã Bằng Cả và Quảng La. Các xã Dân Chủ và Tân Dân cùng nằm ở vùng phía tây huyện. Ngày 1/1/2020, theo Nghị quyết 837/NQ-UBTVQH14, cả bốn xã thuộc thành phố Hạ Long khi huyện Hoành Bồ giải thể.
Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 sắp xếp toàn bộ diện tích, dân số của bốn xã Bằng Cả, Dân Chủ, Tân Dân và Quảng La thành xã Quảng La — đây là khoản đầu tiên trong danh sách sắp xếp của tỉnh Quảng Ninh. Xã mới hoạt động từ 1/7/2025; từ 1/9/2026 thuộc Thành phố Quảng Ninh (Nghị quyết 36/2026/QH16).
Dân cư – xã hội
Với 9.183 người trên hơn 165 km², dân cư Quảng La sống chủ yếu theo các thôn ven đường và thung lũng, mỗi xã cũ có một cụm dân cư trung tâm. Ngoài người Kinh, vùng Hoành Bồ cũ có người Dao và một số dân tộc ít người khác sinh sống xen kẽ; tỷ lệ cụ thể theo từng thôn của xã mới chưa được công bố.
Sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng theo kiểu làng quê vùng đồi Đông Bắc: thờ tổ tiên, thờ thần làng, các lễ theo mùa vụ, cùng phong tục riêng của đồng bào Dao. Các trường học và trạm y tế của bốn xã cũ được duy trì để phục vụ người dân theo cụm; trường trung học phổ thông và bệnh viện gần nhất ở trung tâm Hoành Bồ và Hạ Long.
Kinh tế
Lâm nghiệp là ngành chủ đạo: phần lớn đồi được trồng keo, thông và một số cây bản địa, khai thác gỗ theo chu kỳ — sinh kế quen thuộc của vùng Hoành Bồ cũ, nơi lâm trường từng cung cấp gỗ trụ mỏ cho ngành than. Nông nghiệp gồm trồng lúa ở ruộng thung lũng, rau màu, cây ăn quả trong vườn đồi và chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Vị trí nằm giữa Hạ Long, Uông Bí và vùng Bắc Giang cũ giúp xã có lợi thế trung chuyển nông lâm sản; một bộ phận lao động làm việc tại các khu công nghiệp, mỏ than và đô thị lân cận.
Văn hóa
Quảng La mang nét văn hóa của một vùng làng cổ có từ thời Nguyễn: tên làng chữ, các thiết chế làng xã và lễ nghi nông nghiệp. Đồng bào Dao giữ các phong tục như lễ cấp sắc, trang phục thêu và tri thức dùng cây thuốc rừng.
Thông tin về đình, chùa, miếu cụ thể ở từng thôn và lễ hội làng của bốn xã cũ chưa được kiểm chứng qua nguồn chính thức, nên bài chưa nêu tên.
Giao thông
Xã nằm trên hướng giao thông từ Hạ Long đi lên vùng Sơn Động cũ; tuyến quốc lộ 279 xuất phát từ khu vực Hoành Bồ đi về phía tây bắc. Các đường liên xã nối Quảng La với trung tâm Hoành Bồ và vùng Uông Bí, Quảng Yên ở phía tây nam.
Bản đồ Xã Quảng La
Ghim đặt tại vị trí trụ sở xã. Mở trên Google Maps ↗
Xã, phường cũ hợp thành
Xã Quảng La được lập từ 4 đơn vị cấp xã cũ theo Nghị quyết 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
| Đơn vị cũ | Huyện, quận, thị xã cũ | Tỉnh cũ | Phạm vi |
|---|---|---|---|
| Xã Bằng Cả | Thành phố Hạ Long | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Dân Chủ | Thành phố Hạ Long | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Quảng La | Thành phố Hạ Long | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
| Xã Tân Dân | Thành phố Hạ Long | Tỉnh Quảng Ninh | toàn bộ |
Hỏi đáp nhanh
Xã Quảng La gồm những xã cũ nào?
Toàn bộ bốn xã Bằng Cả, Dân Chủ, Tân Dân và Quảng La của vùng Hoành Bồ cũ (thuộc TP Hạ Long từ 2020).
Tên Quảng La có từ bao giờ?
Quảng La là tên làng thuộc tổng Trí Xuyên, huyện Hoành Bồ từ thời Nguyễn (danh mục năm 1836); năm 1959 thành xã riêng khi tách khỏi xã Bằng Cả.
Tên Quảng La có nghĩa là gì?
Quảng thường ứng với chữ 廣 (rộng); La có thể là 羅 (giăng bày). Chưa tra được bản chữ Hán của tên xã nên nghĩa chỉ là cách hiểu thường gặp.
Diện tích, dân số xã Quảng La?
165,67 km², 9.183 người, mật độ khoảng 55 người/km².
Cùng Thành phố Hạ Long trước đây
- Phường Bãi Cháy 42.108
- Phường Cao Xanh 32.809
- Phường Hà Lầm 47.747
- Phường Hạ Long 52.905
- Phường Hà Tu 29.643
- Phường Hoành Bồ 28.534
- Phường Hồng Gai 51.333
- Phường Tuần Châu 14.904
- Phường Việt Hưng 51.787
- Xã Kỳ Thượng 5.918
- Xã Lương Minh 5.608
- Xã Thống Nhất 17.310
← Toàn bộ 54 xã, phường của Quảng Ninh Tra tên xã cũ → mới